Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã số 62.01) với đề tài "Phát triển khu công nghiệp của Thành phố Cần Thơ đến năm 2020" được nghiên cứu sinh Huỳnh Thanh Nhã thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Phước Minh Hiệp và TS Nguyễn Thanh Hội, bảo vệ năm 2008.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế gắn liền với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Việc phát triển khu công nghiệp (KCN) được xác định là phương thức rút ngắn nhằm khai thác tài nguyên, thu hút vốn, công nghệ và trình độ quản lý. Định hướng này bám sát Nghị quyết Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phân bố hợp lý công nghiệp, phát triển có hiệu quả KCN, khu chế xuất (KCX), khu công nghệ cao (KCNC), cụm công nghiệp (CCN) và Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X về hoàn chỉnh quy hoạch, gắn sản xuất với điều kiện sinh hoạt của người lao động. Đối với Thành phố Cần Thơ, sau khi chính thức trở thành đô thị trực thuộc Trung ương năm 2004, hệ thống KCN bước đầu đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội. Năm 2004, các KCN trên địa bàn có 64 dự án hoạt động, đóng góp 46,28% giá trị sản xuất công nghiệp và 33,88% kim ngạch xuất khẩu toàn thành phố. Tuy nhiên, KCN Cần Thơ chưa thể hiện trọn vẹn vai trò trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL): tỷ lệ lấp đầy diện tích chưa cao, chưa thu hút được các dự án quy mô vốn lớn, cơ chế chính sách chưa đủ sức cạnh tranh so với các KCN vùng Đông Nam Bộ. Khoảng trống thực tiễn đặt ra là cần một nghiên cứu hệ thống đánh giá thực trạng hoạt động và đề xuất giải pháp phát triển các KCN TP Cần Thơ theo hướng bền vững đến năm 2020.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung:

  1. Nghiên cứu các mô hình phát triển KCN, KCX của một số nước trên thế giới, đặc biệt là các nước Đông Nam Á và một số tỉnh, thành ở Việt Nam, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho phát triển các KCN của TP Cần Thơ.
  2. Phân tích thực trạng phát triển KCN TP Cần Thơ trong mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường với những nét đặc trưng của TP Cần Thơ, trung tâm của vùng ĐBSCL.
  3. Trên cơ sở đánh giá những mặt thành công, hạn chế và nguyên nhân tồn tại hạn chế trong quá trình phát triển các KCN của TP Cần Thơ, để đề xuất các giải pháp phát triển mang tính bền vững các KCN của TP Cần Thơ đến năm 2020.

Đối tượng nghiên cứu là quá trình phát triển các KCN của TP Cần Thơ trên cơ sở so sánh tổng thể với các KCN ở ĐBSCL, cả nước và hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) bên trong KCN, kết hợp đánh giá vai trò quản lý của Ban Quản lý khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ trong thu hút đầu tư, tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Địa bàn TP Cần Thơ, đặt trong mối tương quan so sánh với vùng ĐBSCL, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Vĩnh Long) và các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á (Thái Lan, Malaysia, Philippines). Luận án giới hạn tập trung vào các DN hoạt động trong KCN và Ban Quản lý KCN Cần Thơ, không phân tích sâu các DN ngoài KCN và các Trung tâm công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp.
  • Thời gian: Số liệu thống kê và khảo sát thực tế phân tích đến ngày 31 tháng 12 năm 2007; các giải pháp và định hướng nghiên cứu xác định lộ trình đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong luận án, tác giả tổng hợp tài liệu quốc tế và trong nước về quá trình hình thành, phát triển các mô hình KCN, KCX. Tác giả điểm lại tài liệu của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO, 1976) tổng hợp 24 thuật ngữ về KCN chia thành 5 nhóm chức năng (Thương mại, Xuất khẩu, Sản xuất, Hoạt động kinh tế, Tổng quát). Hiệp hội KCN Thế giới (WEPZA) hệ thống hóa 7 loại hình KCN phổ biến: Cảng tự do, Khu bảo thuế/kho ngoại quan, Khu mậu dịch tự do, Khu công nghiệp tập trung, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao và Đặc khu kinh tế. Định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Ngân hàng Thế giới (WB) cũng được tác giả kế thừa nhằm làm rõ tính chất của các khu vực ưu đãi hải quan và thương mại.

Về kinh nghiệm phát triển thực tiễn, luận án phân tích các công trình và mô hình:

  • Thái Lan: Mô hình Cục Quản lý KCN Thái Lan (IEAT) thành lập năm 1972 thuộc Bộ Công nghiệp, trực tiếp điều hành 29/40 KCN theo quy hoạch, kết hợp cơ chế dịch vụ một cửa và chính sách phân 3 vùng phát triển với mức ưu đãi thuế thu nhập công ty khác nhau (vùng 1 miễn 3 năm, vùng 2 miễn 7 năm, vùng 3 miễn 8 năm và giảm 50% trong 5 năm tiếp theo).
  • Malaysia: Mô hình KCN tự do Penang thành lập năm 1971, áp dụng Luật khuyến khích đầu tư năm 1968; thành công nhờ hạ tầng đồng bộ gắn với cảng biển và sân bay, lực lượng lao động trực tiếp chiếm 75% (trong đó 50 - 60% là công nhân lành nghề), doanh thu sản phẩm điện tử chiếm 74,6% tổng doanh thu và thu hút trên 78% vốn đầu tư nước ngoài.
  • Philippines: Bài học từ KCX Bataan thành lập tháng 12/1972 với quy mô 1.200 ha (345 ha sản xuất công nghiệp, 375 ha nhà ở và kho tàng, 480 ha chưa quy hoạch). KCX Bataan không thành công do lựa chọn vị trí vùng bờ biển đồi núi hiểm trở làm tăng chi phí xây dựng hạ tầng (192 triệu USD tính đến năm 1982), chỉ thu hút được 50% số DN dự kiến, chính sách vĩ mô thay đổi cho phép mở rộng kho hàng phi thuế quan ngoài KCX làm mất tính ưu việt của khu, kết hợp thủ tục hành chính phức tạp.
  • Việt Nam: Luận án tham khảo kết quả hội thảo chuyên đề "15 năm hình thành và phát triển KCN, KCX Việt Nam" do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức năm 2006; các khung văn bản pháp lý gồm Nghị định 322/HĐBT ngày 18/10/1991 ban hành quy chế KCX, Nghị định 192/CP năm 1994 ban hành quy chế KCN và Nghị định 36/CP ngày 25/04/1997 thống nhất quy chế KCN, KCX, KCNC. Tác giả phân tích dữ liệu thực tế từ KCX Tân Thuận (thành lập tháng 11/1991, quy mô 300 ha, vốn hạ tầng 88,92 triệu USD) thuộc Ban Quản lý các KCX và Công nghiệp TP Hồ Chí Minh (HEPZA), KCN Việt Nam - Singapore (VSIP, thành lập tháng 5/1996, diện tích 500 ha, thu hút 250 dự án với 1,7 tỷ USD vốn đăng ký) thuộc Ban Quản lý KCN tỉnh Bình Dương và KCN Hòa Phú (tỉnh Vĩnh Long).

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Các nghiên cứu trước chủ yếu tập trung vào các trung tâm công nghiệp lớn vùng Đông Nam Bộ hoặc đánh giá chung toàn quốc; chưa có công trình nào đánh giá toàn diện quá trình phát triển KCN tại một địa bàn mang tính đặc thù sông nước miền Tây Nam Bộ như TP Cần Thơ dưới giác độ cân bằng ba trụ cột phát triển bền vững (kinh tế, xã hội, môi trường) và nhu cầu chuyển đổi của một thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án dựa trên các khái niệm pháp lý quy định tại Luật Đầu tư năm 2005 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2006) của Việt Nam về KCN, KCX, KCNC, CCN và Đặc khu kinh tế. Từ việc phân tích các mặt hạn chế trong định nghĩa của các tổ chức quốc tế (thiếu yếu tố kết cấu hạ tầng đồng bộ và thiếu nhấn mạnh phát triển bền vững), tác giả đề xuất định nghĩa riêng: "KCN là một khu đất được quy hoạch lâu dài, có ranh giới địa lý xác định do Chính phủ quyết định thành lập hoặc giải thể, được đầu tư xây dựng hệ thống công trình, kết cấu hạ tầng đồng bộ, nhằm hỗ trợ các hoạt động sản xuất – kinh doanh được thuận lợi, đảm bảo sự phát triển bền vững hài hòa giữa 3 mặt lợi ích về kinh tế - xã hội - môi trường. Bên trong KCN chỉ có những DN sản xuất sản phẩm công nghiệp và những dịch vụ công nghiệp được đầu tư bởi nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Ngoài ra trong KCN còn có thể có những DN chế xuất hoặc các DN công nghệ cao được tập trung vào những tiểu khu riêng như tiểu khu chế xuất, tiểu khu công nghệ cao trong KCN." Định nghĩa này xác lập các tiêu chí: quy mô đất đai dao động từ 100 đến 1.000 ha, tính chất chuyên môn hóa theo các ngành công nghiệp tương thích, và nguyên tắc phát triển hài hòa ba trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai qua hai bước:

  • Nghiên cứu sơ bộ (định tính): Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm và các hội thảo tập trung tại các địa phương (TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Long An, Cần Thơ) cùng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia để hiệu chỉnh bảng câu hỏi khảo sát.
  • Nghiên cứu chính thức (định lượng mô tả): Thực hiện điều tra bằng bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp toàn bộ 78 DN đang hoạt động tại các KCN TP Cần Thơ trong năm 2007 (chọn mẫu tổng thể N = 78). Dữ liệu điều tra thô được nhập liệu và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS nhằm thống kê mô tả tần số, cơ cấu vốn, lao động, mức độ hài lòng về hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ.

Phương pháp luận chỉ đạo xuyên suốt là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh đối chiếu số liệu và phương pháp tổng hợp.

Nguồn dữ liệu của luận án gồm:

  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo định kỳ của Vụ Quản lý KCN và KCX (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tính đến ngày 31/12/2007; báo cáo hoạt động của Ban Quản lý các KCX và Công nghiệp TP Hồ Chí Minh, Ban Quản lý KCN tỉnh Bình Dương, Ban Quản lý khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ; các văn kiện Đại hội Đảng và niên giám thống kê.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập trực tiếp từ phiếu khảo sát 78 DN tại các KCN TP Cần Thơ trong năm 2007.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Nhu cầu phát triển KCN của TP Cần Thơ và những bài học kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp

Chương I trình bày lịch sử hình thành KCN trên thế giới từ thế kỷ 16 với các cảng tự do (Genoa, Marseille, Copenhagen) và công trường thủ công, bước qua giai đoạn ứng dụng năng lượng điện ở thế kỷ 19 - 20 và sự mở rộng mô hình KCN tại Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Chương này phân tích chi tiết kinh nghiệm xây dựng KCN của Thái Lan (IEAT), Malaysia (KCN Penang) và nguyên nhân thất bại của KCX Bataan (Philippines), rút ra 6 bài học kinh nghiệm về ổn định chính trị, tính đồng bộ của pháp luật, chính sách giá và chi phí cạnh tranh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, lựa chọn vị trí gắn với hạ tầng giao thông và cân đối đa dạng hóa quy mô KCN.

Về thực trạng KCN Việt Nam, luận án tổng hợp số liệu phân bổ toàn quốc đến ngày 31/12/2007:

STT Địa phương / Vùng miền Số lượng KCN Đất tự nhiên (ha) Đất công nghiệp có thể cho thuê (ha) Đất đã cho thuê (ha) Tỉ lệ cho thuê (%)
1 Miền Bắc 55 12.074,9 8.243,2 4.237,0 51,4
2 TP Hồ Chí Minh 15 2.729,0 2.115,8 1.360,5 64,3
3 Đông Nam Bộ 56 18.753,8 12.820,5 6.807,7 53,1
4 Miền Tây Nam Bộ 26 4.205,3 2.858,0 1.074,6 37,6
5 Vùng Tây Nguyên 4 463,2 319,2 171,7 53,8
Tổng Cả nước (53 tỉnh, thành) 179 42.372,1 28.813,0 14.375,5 49,9

(Nguồn: Thống kê từ Vụ Quản lý KCN&KCX, Bộ Kế hoạch & Đầu tư – 31/12/2007, trích Bảng 1.2)

Số liệu cho thấy miền Nam tập trung số lượng KCN lớn nhất (97 KCN, chiếm 54,19% cả nước), trong khi Miền Tây Nam Bộ có 26 KCN với diện tích tự nhiên 4.205,3 ha nhưng tỷ lệ cho thuê đạt thấp nhất (37,6%). Chương này đối chiếu kinh nghiệm của TP Hồ Chí Minh (15 KCN/KCX, tỷ lệ cho thuê 64,3%, thu hút 958 DN; thành công của KCX Tân Thuận đạt giá trị sản xuất 4.856 triệu USD và xuất khẩu 970 triệu USD) và tỉnh Bình Dương (22 KCN với 6.314 ha đất tự nhiên, 14 KCN hoạt động cho thuê trên 86%, tiêu biểu là VSIP với vốn đăng ký 1,7 tỷ USD). Từ vị trí địa kinh tế của TP Cần Thơ ở trung tâm ĐBSCL, chương này khẳng định nhu cầu phát triển KCN là động lực tất yếu để thành phố thực hiện mục tiêu CNH, HĐH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Chương II: Đánh gía thực trạng quá trình phát triển các khu công nghiệp TP Cần Thơ trong thời gian qua

Chương II tập trung phân tích thực trạng các KCN TP Cần Thơ gồm KCN Trà Nóc (Trà Nóc 1 và Trà Nóc 2), KCN Hưng Phú (Hưng Phú 1, Hưng Phú 2) và KCN Thốt Nốt. Tác giả chỉ ra các nét đặc trưng của KCN Cần Thơ: vị trí bám dọc sông Hậu thuận lợi giao thông thủy; quy mô đất đai ở mức trung bình; ngành nghề sản xuất chủ yếu là chế biến lương thực, thực phẩm, thủy hải sản xuất khẩu và công nghiệp hỗ trợ phục vụ nông nghiệp; trình độ công nghệ và lao động phần lớn ở mức trung bình, sử dụng nhiều lao động giản đơn.

Dựa trên kết quả khảo sát 78 DN hoạt động trong KCN Cần Thơ năm 2007 qua xử lý SPSS và dữ liệu thứ cấp, chương II cung cấp các phát hiện thực nghiệm quan trọng:

  • Về tăng trưởng kinh tế: Tỷ lệ lấp đầy các KCN mới như Hưng Phú còn chậm do vướng mắc giải phóng mặt bằng và suất đầu tư hạ tầng cao. Giá thuê đất tại KCN Hưng Phú cao hơn đáng kể so với KCN Hòa Phú của tỉnh Vĩnh Long lân cận (Bảng 2.21), làm giảm lợi thế cạnh tranh của Cần Thơ. Vốn thực hiện của các dự án FDI và trong nước thấp hơn nhiều so với vốn đăng ký.
  • Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ: Khảo sát phản ánh tình trạng mất điện định kỳ gây tổn thất sản xuất cho DN (Bảng 2.10); cước phí và chất lượng dịch vụ viễn thông còn nhận được các đánh giá khác nhau (Bảng 2.12, 2.13); nhu cầu sử dụng mặt bằng mở rộng sản xuất đang gặp rào cản về tiến độ san lấp hạ tầng (Bảng 2.9).
  • Về lao động và xã hội: Lao động tại KCN chủ yếu là người địa phương và các tỉnh phụ cận thuộc ĐBSCL, tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật chuyên sâu còn thấp (Bảng 2.7, 2.20). Các KCN chưa phát triển đồng bộ khu nhà ở và thiết chế văn hóa cho công nhân, tạo sức ép về an ninh trật tự và đời sống xã hội.
  • Về bảo vệ môi trường: Hạ tầng kỹ thuật xử lý chất thải công nghiệp còn thiếu đồng bộ. Một số DN chưa vận hành nghiêm túc hệ thống xử lý nước thải cục bộ, việc kiểm soát nguồn xả thải ra lưu vực sông Hậu gặp nhiều khó khăn (Bảng 2.11).

Chương II tổng kết các nguyên nhân tồn tại: quy hoạch thiếu tính đón đầu, vốn đầu tư hạ tầng từ ngân sách hạn chế, năng lực của các công ty kinh doanh hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu, cơ chế phối hợp "một cửa" của Ban Quản lý KCN chưa được phân cấp triệt để từ các sở, ngành.

Chương III: Các giải pháp phát triển khu công nghiệp của TP Cần Thơ đến năm 2020

Chương III xác định định hướng đưa TP Cần Thơ trở thành thành phố loại I trước năm 2010 và cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020. Tác giả đề xuất 5 quan điểm phát triển: (1) Phát triển KCN là công cụ hữu hiệu thực hiện CNH, HĐH; (2) Phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế; (3) Nâng cao hiệu quả phục vụ kịp thời quá trình phát triển thành phố đến năm 2020; (4) Phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội TP Cần Thơ và chiến lược KCN cả nước; (5) Phát triển bền vững, cân đối giữa 3 mặt lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.

Hệ thống giải pháp phát triển KCN TP Cần Thơ đến năm 2020 được thiết kế thành 4 nhóm cụ thể:

  1. Nhóm giải pháp đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế: Hoàn thiện quy hoạch tổng thể hệ thống KCN gắn với quy hoạch chung của thành phố và vùng ĐBSCL; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; tập trung huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào KCN; hỗ trợ DN mở rộng thị trường và đẩy mạnh nguồn lực xuất khẩu; tăng cường hợp tác quốc tế nhằm thu hút các dự án có công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn.
  2. Nhóm giải pháp ổn định và phát triển xã hội: Tăng cường liên kết giữa KCN với các trường đại học, cao đẳng, trường dạy nghề trên địa bàn để đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực kỹ thuật; tập trung các nguồn lực giải quyết việc làm ổn định cho lao động nông thôn bị thu hồi đất; quy hoạch và xây dựng các khu dân cư, khu nhà ở công nhân đồng bộ với công trình y tế, trường học và khu vui chơi giải trí.
  3. Nhóm giải pháp hạn chế ô nhiễm và bảo vệ môi trường: Tăng cường tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho các DN; bắt buộc xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống nhà máy xử lý nước thải tập trung tại từng KCN trước khi tiếp nhận dự án thứ cấp; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường; thiết lập quy chế phối hợp và hỗ trợ phương tiện hoạt động cho lực lượng Cảnh sát môi trường.
  4. Nhóm giải pháp hỗ trợ phát triển: Kiến nghị Trung ương sớm xây dựng và ban hành Luật Khu công nghiệp; hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, phân cấp ủy quyền thực chất cho Ban Quản lý KCN thực hiện cơ chế "một cửa tại chỗ"; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với các KCN; xây dựng mối liên kết kinh tế nội vùng giữa Cần Thơ và các tỉnh ĐBSCL trong cung cấp nguyên liệu và phân công ngành nghề; sắp xếp, nâng cao năng lực tài chính và quản trị của các công ty kinh doanh phát triển hạ tầng KCN.

Chương này kết thúc bằng hệ thống kiến nghị phân cấp cụ thể đối với các cơ quan Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường), Ủy ban nhân dân TP Cần Thơ và các doanh nghiệp hoạt động trong KCN.

Kết quả và những đóng góp mới

Các kết quả và đóng góp mới của luận án được tác giả xác định trên cả hai phương diện:

Về lý luận:

  • Bổ sung và hoàn thiện khái niệm về KCN trong điều kiện Việt Nam: Tác giả chỉ ra khiếm khuyết của các định nghĩa trước đó và bổ sung hai yếu tố bắt buộc: (1) Tính đồng bộ của hệ thống công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, và (2) Yêu cầu phát triển bền vững hài hòa giữa ba mặt lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái.
  • Hệ thống hóa khung phân tích đánh giá quá trình phát triển KCN theo 4 nhóm nội dung gắn liền với ba trụ cột phát triển bền vững (kinh tế, xã hội, môi trường) và chính sách thể chế hỗ trợ, làm cơ sở khoa học để nghiên cứu KCN cấp địa phương.

Về thực tiễn:

  • Phân tích và đúc kết có hệ thống bài học kinh nghiệm phát triển KCN, KCX thành công tại Thái Lan (IEAT), Malaysia (KCN Penang), TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và nguyên nhân thất bại tại KCX Bataan (Philippines) để soi chiếu vào điều kiện cụ thể của TP Cần Thơ.
  • Xây dựng bức tranh thực trạng hoạt động của hệ thống KCN TP Cần Thơ thông qua việc khảo sát toàn bộ 78 DN đang hoạt động năm 2007; chỉ rõ các điểm nghẽn về giá thuê đất so với các tỉnh lân cận, tình trạng thiếu hụt hạ tầng xã hội cho người lao động và nguy cơ ô nhiễm môi trường.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ và các kiến nghị cụ thể cho 3 cấp quản lý (Trung ương, chính quyền TP Cần Thơ, doanh nghiệp KCN) bám sát mục tiêu phát triển thành phố Cần Thơ đến năm 2020.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi khảo sát: Tác giả chỉ giới hạn thu thập số liệu và điều tra tại các DN hoạt động chính thức bên trong các KCN và Ban Quản lý KCN Cần Thơ; chưa khảo sát mở rộng đối với các DN công nghiệp nằm ngoài KCN và các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp do cấp quận, huyện quản lý trên địa bàn.
  • Về dữ liệu thời gian: Dữ liệu điều tra sơ cấp là số liệu cắt ngang thực hiện tại thời điểm năm 2007 với quy mô 78 DN, phản ánh giai đoạn đầu sau khi Cần Thơ chia tách địa giới hành chính và thành lập thành phố trực thuộc Trung ương, do đó chưa theo dõi được chuỗi biến động dài hạn của các DN sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Nghiên cứu mở rộng mối quan hệ liên kết và tác động lan tỏa giữa KCN với hệ thống DN công nghiệp ngoài KCN và các vùng nguyên liệu nông - thủy sản tại các tỉnh thuộc ĐBSCL.
  • Khảo sát, đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của các mô hình KCN chuyên ngành và KCN sinh thái khi triển khai các quy hoạch hạ tầng giao thông kết nối vùng sau năm 2010.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho Ban Quản lý các KCN Cần Thơ và Ủy ban nhân dân TP Cần Thơ trong công tác rà soát quy hoạch đất công nghiệp, điều chỉnh giá thuê hạ tầng, hoàn thiện cơ chế hành chính "một cửa" và xây dựng chính sách nhà ở cho người lao động.
  • Nhà quản trị và doanh nghiệp phát triển hạ tầng: Cung cấp các thông tin khảo sát về nhu cầu mặt bằng, mức độ tổn thất do sự cố điện, đánh giá chất lượng dịch vụ viễn thông và các yếu tố thu hút DN thứ cấp vào KCN.
  • Nghiên cứu sinh, giảng viên: Cung cấp tư liệu thực nghiệm, phương pháp thiết kế phiếu khảo sát điều tra toàn bộ DN KCN trên địa bàn cấp tỉnh và khung bài học kinh nghiệm quốc tế phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu môn học Quản trị kinh doanh, Kinh tế phát triển và Quản lý kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả luận án bổ sung những điểm mới nào vào khái niệm khu công nghiệp?
Tác giả bổ sung hai nội dung cốt lõi: thứ nhất là yêu cầu phải được đầu tư xây dựng hệ thống công trình, kết cấu hạ tầng đồng bộ (yếu tố quyết định sức hút đầu tư); thứ hai là phải bảo đảm sự phát triển bền vững hài hòa giữa 3 mặt lợi ích: tăng trưởng kinh tế, công bằng tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Khái niệm cũng xác định quy mô KCN dao động từ 100 đến 1.000 ha và định hướng phát triển theo các ngành công nghiệp tương thích.

2. Khảo sát thực nghiệm của luận án tại TP Cần Thơ được tiến hành với quy mô mẫu ra sao?
Nghiên cứu sinh thực hiện khảo sát toàn bộ (tổng điều tra) 78 DN đang hoạt động tại các KCN của TP Cần Thơ vào năm 2007 (N = 78) bằng bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp tự thiết kế, sau đó xử lý số liệu thô bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS để phân tích thống kê mô tả.

3. Tại sao mô hình Khu chế xuất Bataan của Philippines lại không thành công theo phân tích của tác giả?
KCX Bataan (thành lập tháng 12/1972) không thành công do: vị trí xây dựng ở vùng bờ biển đồi núi hiểm trở làm chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng tăng cao (lên tới 192 triệu USD đến năm 1982), chỉ thu hút được 50% số DN dự kiến; Chính phủ Philippines thay đổi chính sách vĩ mô cho phép mở rộng các kho hàng phi thuế quan ngoài KCX làm mất tính ưu việt của khu; chi phí sử dụng hạ tầng và cước dịch vụ cao, kết hợp thủ tục hành chính quan liêu khiến nhiều nhà đầu tư rút lui.

4. Tính đến ngày 31/12/2007, hệ thống KCN của Miền Tây Nam Bộ có đặc điểm gì so với cả nước?
Theo số liệu thống kê từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong luận án, Miền Tây Nam Bộ có 26 KCN trên tổng số 179 KCN của cả nước, với diện tích đất tự nhiên là 4.205,3 ha và đất công nghiệp có thể cho thuê là 2.858,0 ha. Tuy nhiên, diện tích đất đã cho thuê mới đạt 1.074,6 ha, tương đương tỷ lệ lấp đầy 37,6% – mức thấp nhất so với Miền Bắc (51,4%), Đông Nam Bộ (53,1%), TP Hồ Chí Minh (64,3%) và Tây Nguyên (53,8%).

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp nào để phát triển KCN TP Cần Thơ đến năm 2020?
Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ: (1) Nhóm giải pháp đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế (quy hoạch, môi trường đầu tư, hạ tầng trong - ngoài KCN, xuất khẩu, hợp tác quốc tế); (2) Nhóm giải pháp ổn định và phát triển xã hội (đào tạo nhân lực, việc làm, nhà ở cho người lao động); (3) Nhóm giải pháp hạn chế ô nhiễm và bảo vệ môi trường (tuyên truyền, xử lý chất thải tập trung, quản lý nhà nước, phối hợp cảnh sát môi trường); (4) Nhóm giải pháp hỗ trợ phát triển (kiến nghị ban hành Luật KCN, cải tiến cơ chế một cửa, liên kết nội vùng ĐBSCL và sắp xếp DN kinh doanh hạ tầng).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Huỳnh Thanh Nhã (2008) là công trình nghiên cứu toàn diện về thực trạng và định hướng phát triển các KCN của Thành phố Cần Thơ trong giai đoạn đầu trở thành đô thị trực thuộc Trung ương. Bằng việc phân tích kinh nghiệm quốc tế và trong nước kết hợp khảo sát 78 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn, tác giả đã chỉ rõ các nút thắt về cơ sở hạ tầng, tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp, an sinh xã hội và kiểm soát môi trường sinh thái. Các luận điểm của tác giả nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ phát triển KCN theo diện rộng sang mô hình phát triển bền vững dựa trên sự hài hòa giữa ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường, cung cấp hệ thống 4 nhóm giải pháp thực tiễn hướng đến mục tiêu công nghiệp hóa thành phố đến năm 2020.