Chương 1 giới thiệu lý do hình thành dự án, lý do hình thành đề tài, mục tiêu đề tài, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi đề tài và nguồn thông tin thu thập. Chương 2 khái quát tổng quan cơ sở lý thuyết về thẩm định dự án đầu tư. Chương 3 mô tả dự án “Mở rộng hệ thống cấp nước Đà Nẵng”. Chương 4 phân tích tài chính của dự án.
Chương này sẽ phân tích hiệu quả tài chính của dự án theo hai quan điểm tổng đầu tư và chủ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chương 5 phân tích rủi ro. Chương này sẽ phân tích các yếu tố có tác động đến hiệu quả của dự án dựa trên kết quả phân tích độ nhạy, phân tích kịch bản, phân tích Monte Carlo. Chương 6 phân tích kinh tế, xã hội của dự án.
Chương này sẽ phân tích hiệu quả kinh tế của dự án, những tác động của dự án đến các nhóm lợi ích trong xã hội thông qua phân tích phân phối. Chương 7 kết luận và kiến nghị. Chương này rút ra những kết luận từ các phân tích về tài chính, kinh tế và xã hội, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị chính sách của đề tài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2:TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này giới thiệu tổng quan cơ sở lý thuyết phân tích dự án, chu trình phát triển của dự án, các quan điểm khác nhau về phân tích dự án, các phương pháp và chỉ tiêu sử dụng trong phân tích dự án.1 Chu trình phát triển của dự án4 Chu kỳ hoạt động của một dự án là các giai đoạn mà dự án phải trải qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý tưởng đến khi dự án hoàn thành và chấm dứt hoạt động.
Chu kỳ của một dự án đầu tư được thể hiện qua 3 giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, gồm có các bước nghiên cứu phát triển cơ hội đầu tư; nghiên cứu tiền khả thi và sơ bộ lựa chọn dự án; nghiên cứu khả thi (lập dự án đầu tư); thẩm định dự án đầu tư. Giai đoạn thực hiện đầu tư, gồm có các bước đàm phán, ký kết hợp đồng và hoàn tất thủ tục đầu tư; thiết kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình; xây dựng, lắp đặt thiết bị và đâò tạo nhân lực; bàn giao, chạy thử, nghiệm thu và thanh toán công trình. Giai đoạn vận hành, gồm có các bước sử dụng chưa hết công suất; sử dụng công suất ở mức độ tối đa; công suất giảm dần và thanh lý cuối đời dự án. Trong 3 giai đoạn của chu trình dự án, mặc dù giai đoạn chuẩn bị đầu tư chiếm một lượng vốn rất ít nhưng nó có ý nghĩa quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của dự án.
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo cơ sở và tiền đề quyết định thành công hay thất bại ở hai giai đoạn sau, đặc biệt là giai đoạn vận hành dự án đầu tư.2 Các quan điểm phân tích dự án5 Luận văn tổng hợp các quan điểm phân tích dự án bao gồm: Quan điểm tổng đầu tư hay quan điểm của ngân hàng: Theo quan điểm này, mối quan tâm lớn nhất là xác định sức mạnh tổng thể của dự án nhằm đánh giá sự an toàn của số vốn vay mà dự án có thể cần. Các ngân hàng xem dự án như một hoạt động có khả năng tạo ra những lợi ích 4 http://www.com truy cập lúc 8h ngày 11/12/2011 5 Glenn P. Sách hướng dẫn phân tích chi phí và lợi ích cho các quyết định đầu tư, Viện phát triển quốc tế Harvard(HIID), chương 3, trang 12-13, hiệu đính tháng1/2005. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 tài chính rõ ràng và sử dụng những nguồn tài chính rõ ràng.
Các chi phí và các lợi ích của dự án được xác định theo giá tài chính. Từ những dòng tài chính tiềm tàng này, ngân hàng sẽ phân tích tính khả thi về mặt tài chính, nhu cầu cần vay vốn và khả năng trả nợ vay của dự án. Quan điểm chủ đầu tư: Chủ đầu tư xem xét mức thu nhập ròng tăng thêm của dự án so với những gì họ có thể kiếm được trong trường hợp không có dự án. Chủ đầu tư xem những gì họ mất đi khi thực hiện dự án là chi phí.
Khác với ngân hàng, chủ đầu tư xem vốn vay được giải ngân như khoản thu tiền mặt; tiền trả lãi và nợ gốc là khoản chi tiền mặt. Quan điểm kinh tế: Nhà phân tích tính toán tỷ suất lợi nhuận của dự án theo quan điểm của quốc gia, sử dụng giá kinh tế để định giá nhập lượng và xuất lượng của dự án. Ngoài ra, nhà phân tích cần loại bỏ thuế, trợ giá và bổ sung những ngoại tác mà dự án tạo ra cho môi trường. Quan điểm phân phối thu nhập: Nhà phân tích tính toán lợi ích tài chính ròng mà dự án mang lại cho các nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của dự án, sau khi đã trừ đi chi phí cơ hội của họ.
Phân tích phân phối thu nhập được xây dựng trên cơ sở các phân tích tài chính và kinh tế với điều kiện chúng được thực hiện theo quan điểm của tất cả các bên liên quan tới dự án.3 Các phương pháp phân tích 2.1 Các phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính6 Một số phương pháp được sử dụng trong phân tích tài chính được trình bày như sau: Phương pháp giá trị hiện tại ròng NPV: Giá trị hiện tại ròng là giá trị hiện tại của các dòng tiền thu được trong tương lai trừ đi giá trị hiện tại của các khoản chi phí đầu tư. Để tính hiện giá của dự án, đầu tiên phải loại trừ tất cả các chi phí ra khỏi tổng lợi ích của mỗi giai đoạn để có lợi ích ròng. Sau đó, lựa chọn một suất chiết khấu thể hiện được chi phí cơ hội của vốn phục vụ cho dự án. Từ đó sẽ tính được giá trị hiện tại ròng của dự án.
Dự án được lựa chọn khi giá trị hiện tại ròng lớn hơn hay bằng 0. Phương pháp suất sinh lợi nội tại IRR: Suất sinh lợi nội tại là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của dự án. Để tính IRR của dự án thì người ta đưa chuỗi lợi ích ròng của dự án về giá trị 6 Glenn P. Sách hướng dẫn phân tích chi phí và lợi ích cho các quyết định đầu tư, Viện phát triển quốc tế Harvard(HIID), chương 4, trang 5-15, hiệu đính tháng1/2005 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hiện tại, suất chiết khấu làm cho NPV bằng 0 chính là giá trị của IRR.
Tiêu chí để lựa chọn dự án là IRR lớn hơn hoặc bằng chi phí vốn của dự án. Phương pháp tỉ số lợi ích- chi phí B/C: Tỷ số lợi ích-chi phí được tính bằng cách đem chia hiện giá các lợi ích cho hiện giá các chi phí, sử dụng chi phí cơ hội của vốn làm suất chiết khấu. Để một dự án được lựa chọn thì tỷ số lợi ích-chi phí lớn hơn 1.2 Các phương pháp sử dụng trong phân tích kinh tế - xã hội7 Một số phương pháp trong phân tích kinh tế - xã hội thường được sử dụng bao gồm: Phương pháp hệ số chuyển đổi giá: Nhà phân tích sử dụng hệ số chuyển đổi (tỷ số giữa giá kinh tế của một khoản mục với giá tài chính của nó) để tiến hành thẩm định kinh tế của dự án. Từ dòng ngân lưu tài chính kết hợp với hệ số chuyển đổi giá sẽ tính ra dòng ngân lưu kinh tế của dự án.
Phương pháp “Có” và “Không có” dự án: Bất kể bản chất của dự án là gì thì việc thực hiện dự án cũng làm giảm cung đầu vào và tăng cung đầu ra cung cấp cho các nơi khác của nền kinh tế. Thông qua khảo sát sự khác biệt về mức độ sẵn có của đầu vào và đầu ra khi có và không có dự án, nhà phân tích sẽ xác định được chi phí và lợi ích gia tăng. Phương pháp chi phí-hiệu quả: Một số dự án sản sinh ra lợi ích mà không dễ dàng đo lường được bằng tiền thì phương pháp chi phí-hiệu quả có thể được vận dụng, phương pháp này cho phép so sánh chi phí của các phương án khác nhau với lợi ích kỳ vọng của chúng để làm cơ sở lựa chọn. Phương pháp phân tích lợi ích chi phí: Phương pháp này được sử dụng với những dự án mà lợi ích và chi phí của nó có thể đo lường được bằng tiền.
Nhà phân tích phải ước lượng những lợi ích mà dự án mang lại hoặc những chi phí gây ra cho xã hội mà không được phản ánh trong phân tích tài chính.4 Khung phân tích lợi ích – chi phí của dự án cấp nước 2.1 Lợi ích và chi phí tài chính Lợi ích tài chính của dự án cấp nước tạo ra chủ yếu là doanh thu bán nước sạch, doanh thu bán nước sạch được tính như sau: Doanh thu = Sản lượng nước bán ra trong ngày x đơn giá nước bình quân x số ngày trong năm 7 Pedro Belli (2001). Phân tích kinh tế các hoạt động đầu tư. Viện ngân hàng thế giới. Chương 3, 5, 7,8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Trong đó sản lượng nước bán ra trong ngày được tính dựa vào công suất cấp nước và tỷ lệ thất thoát nước.
Đơn giá nước bình quân được tính dựa vào giá nước của từng nhóm và tỷ trọng tiêu dùng của mỗi nhóm. Chi phí tài chính của dự án bao gồm các khoản mục sau: Chi phí đầu tư ban đầu, chi phí hoạt động (điện, hóa chất xử lý nước, nhân công, bảo trì.), chi phí thuế TNDN.2 Lợi ích và chi phí kinh tế Lợi ích kinh tế của dự án cấp nước được lượng hóa bao gồm: lợi ích thay thế nguồn lực của những đối tượng trước đây không dùng nước của dự án mà sử dụng nguồn nước khác như giếng khoan, nước đóng chai và lợi ích tăng thêm của những đối tượng trước đây đã có nước sạch nhưng lượng dùng bị hạn chế. Ngoài ra, dự án tạo ra lợi ích do giảm được bệnh tật liên quan đến nguồn nước. Khung phân tích lợi ích kinh tế của dự án cấp nước như sau: Hình 2.