Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch tỉnh Bình Thuận đã trải qua giai đoạn chuyển mình vượt bậc khi tổng doanh thu toàn ngành tăng từ 7,045 tỷ đồng năm 1991 lên 226 tỷ đồng vào năm 2002, tương ứng mức tăng trưởng gấp 32 lần. Cùng với đó, lượng du khách đến với địa phương tăng đột phá từ 22.162 lượt khách năm 1991 lên xấp xỉ 1.000.000 lượt khách vào năm 2002. Nhằm định hình du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận đã ban hành Quyết định số 07/2002/QĐ-UBBT phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Bình Thuận đến năm 2010.

Tuy nhiên, bài toán đặt ra là nhu cầu vốn đầu tư phát triển toàn ngành trong giai đoạn 2001 - 2010 lên tới 5.296 tỷ đồng, trong đó nhu cầu vốn giai đoạn 2001 - 2005 là 1.148 tỷ đồng và giai đoạn 2006 - 2010 là 4.148 tỷ đồng. Trong khi đó, khả năng tích lũy từ nguồn ngân sách địa phương phục vụ hạ tầng chỉ đạt khoảng 949 tỷ đồng trong giai đoạn đầu. Tình trạng thiếu hụt vốn, hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ và có tới 31 dự án du lịch bị đình trệ do vướng mắc giải phóng mặt bằng đang là những rào cản lớn.

Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích toàn diện thực trạng các kênh huy động vốn đầu tư cho du lịch Bình Thuận trong giai đoạn 1991 - 2002, xác định nguyên nhân hạn chế và đề xuất hệ thống giải pháp tài chính khả thi cho giai đoạn 2001 - 2010. Về phạm vi không gian và thời gian, đề tài khảo sát các địa bàn trọng điểm gồm thành phố Phan Thiết cùng các huyện Tuy Phong, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân trong chuỗi thời gian 1991 - 2002 và định hướng đến năm 2010. Ý nghĩa cốt lõi của nghiên cứu là cung cấp luận cứ khoa học nhằm nâng tỷ trọng GDP du lịch từ mức 5,65% năm 2001 lên 10,2% năm 2005 và đạt 14,8% năm 2010, tạo động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình tăng trưởng kinh tế Harrod - Domar làm nền tảng lý thuyết chính để xác định mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ vốn đầu tư. Mô hình thiết lập phương trình toán kinh tế: Mức tăng GDP bằng Mức tăng vốn đầu tư chia cho hệ số ICOR (Hệ số gia tăng vốn - đầu ra). Hệ số ICOR phản ánh trực tiếp hiệu quả sử dụng vốn, chỉ ra lượng vốn đầu tư bổ sung cần thiết để tạo ra một đơn vị tăng thêm của tổng sản phẩm nội địa trong ngành du lịch.

Bên cạnh đó, đề tài kết hợp lý thuyết cân đối tích lũy và đầu tư trong kinh tế học vĩ mo. Nguồn vốn đầu tư xã hội được hình thành từ hai nguồn gốc cốt lõi: tiết kiệm trong nước (tiết kiệm ngân sách nhà nước, tiết kiệm doanh nghiệp, tiết kiệm dân cư) và tiết kiệm nước ngoài (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và viện trợ phát triển chính thức ODA). Khung nghiên cứu tập trung làm rõ 5 khái niệm chuyên ngành căn bản: vốn đầu tư phát triển, kênh huy động vốn tài chính, tín dụng ngân hàng trung dài hạn, hệ số ICOR ngành dịch vụ và năng lực hấp thụ vốn của địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn bao gồm hệ thống dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thống từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Thuận, báo cáo tổng hợp của Sở Tài chính - Vật giá, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh Bình Thuận và các công trình dự báo của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch thuộc Tổng cục Du lịch trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2002, kết hợp số liệu quy hoạch đến năm 2010.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, tác giả áp dụng phương pháp điều tra toàn bộ số liệu thống kê hành chính trên địa bàn tỉnh. Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm 100% các dự án đã đăng ký gồm: 236 dự án đầu tư của doanh nghiệp trong nước với tổng vốn 1.610 tỷ đồng, 11 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 33,28 triệu USD, cùng 130 dự án đầu tư kết cấu hạ tầng du lịch có tổng kinh phí 120,104 tỷ đồng. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện tuyệt đối, phản ánh đầy đủ thực trạng huy động vốn của các thành phần kinh tế mà không bị sai lệch do chọn mẫu ngẫu nhiên.

Phương pháp phân tích chủ yếu là phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian, phương pháp cân đối vĩ mô và phân tích cơ cấu tài chính. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp tác giả đánh giá chính xác biến động dòng vốn qua từng năm, tính toán hệ số ICOR thực tế của địa phương (đạt mức 3,0 trong giai đoạn 1995 - 2000 và 3,5 sau năm 2000), từ đó xây dựng các dự báo nhu cầu vốn có độ tin cậy cao cho giai đoạn 2001 - 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng du khách và doanh thu du lịch tăng trưởng bứt phá nhưng có sự mất cân đối lớn về phân bố địa lý. Trong giai đoạn 1996 - 2002, lượng du khách tăng bình quân 53%/năm, đạt mốc 1.000.000 lượt vào năm 2002, trong đó khách quốc tế đạt 90.000 lượt. Tốc độ tăng trưởng du khách tại Bình Thuận giai đoạn 1993 - 2002 đạt 40,68%/năm với khách quốc tế và 53,91%/năm với khách nội địa, vượt xa mức bình quân cả nước là 16,26%/năm và 10,95%/năm. Tuy vậy, dòng khách và cơ sở lưu trú tập trung tới hơn 80% tại dải ven biển Phan Thiết - Mũi Né, trong khi các huyện Tuy Phong, Hàm Thuận Nam vẫn còn rất hoang sơ.

Thứ hai, khu vực doanh nghiệp tư nhân ngoài tỉnh đóng vai trò áp đảo trong cơ cấu vốn đầu tư lưu trú. Tính đến cuối năm 2002, toàn tỉnh có 236 dự án trong nước đăng ký với tổng vốn 1.610 tỷ đồng trên diện tích 447 ha. Trong đó, các doanh nghiệp tư nhân đến từ thành phố Hồ Chí Minh chiếm vị trí áp đảo với 137 dự án và 1.090 tỷ đồng vốn, tương đương 67,7% tổng vốn đăng ký. Doanh nghiệp tư nhân tại chỗ của Bình Thuận chỉ tham gia 68 dự án với 354 tỷ đồng (chiếm 22%), còn doanh nghiệp nhà nước chỉ có 4 dự án với 31 tỷ đồng (chiếm 1,92%).

Thứ ba, kênh tín dụng ngân hàng có sự bứt phá mạnh mẽ về dư nợ trung và dài hạn. Dư nợ trung - dài hạn tăng từ 159,770 tỷ đồng năm 1998 lên 799,770 tỷ đồng năm 2002, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 49,6%/năm. Riêng khu vực dịch vụ du lịch chiếm 31,3% tổng dư nợ trung dài hạn năm 2002 và ghi nhận tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân lên tới 85,91%/năm trong giai đoạn 1998 - 2002, vượt trội so với mức tăng 42%/năm của ngành nông lâm ngư nghiệp.

Thứ tư, thu hút dòng vốn FDI và khai thác thị trường chứng khoán còn rất khiêm tốn. Luỹ kế đến năm 2002, Bình Thuận mới thu hút được 11 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 33,28 triệu USD (vốn thực hiện đạt 24,5 triệu USD, chiếm 73,62%). Sau dự án Sân golf và Khách sạn Novotel năm 1993 trị giá 21,3 triệu USD, dòng vốn FDI gần như chững lại từ năm 1996 đến năm 2000. Trên thị trường vốn, toàn tỉnh mới thực hiện cổ phần hóa được 2 doanh nghiệp du lịch với giá trị vỏn vẹn 9,5 tỷ đồng và chưa có doanh nghiệp nào phát hành cổ phiếu, trái phiếu rộng rãi.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của tình trạng trên bắt nguồn từ nguồn thu ngân sách địa phương còn hạn hẹp, tỷ lệ động viên ngân sách bình quân chỉ đạt 9,19% GDP trong giai đoạn 1998 - 2002. Tỉnh phụ thuộc lớn vào trợ cấp trung ương (chiếm 48,81% tổng thu ngân sách với 1.370,6 tỷ đồng qua 5 năm). Khoản chi đầu tư phát triển hạ tầng du lịch dù đạt 120,104 tỷ đồng cho 130 công trình nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu giao thông, cấp nước và xử lý chất thải tại các điểm du lịch mới.

Khi trình bày các số liệu nghiên cứu, dữ liệu có thể được mô hình hóa trực quan qua hệ thống biểu đồ và bảng đối chiếu:

  • Biểu đồ cột đôi so sánh tốc độ tăng trưởng khách du lịch và doanh thu giai đoạn 1991 - 2002 làm nổi bật bước nhảy vọt sau năm 1995.
  • Biểu đồ tròn biểu thị cơ cấu vốn đầu tư của doanh nghiệp trong nước phân theo nguồn gốc địa lý (thành phố Hồ Chí Minh 67,7%, địa phương 22%, tỉnh khác 7,7%, doanh nghiệp nhà nước 1,92%).
  • Bảng cân đối nhu cầu vốn hạ tầng giai đoạn 2001 - 2005 (1.370 tỷ đồng) so với khả năng tích lũy ngân sách (949 tỷ đồng) chỉ rõ khoản thiếu hụt 421 tỷ đồng cần huy động ngoài ngân sách.

Hệ số ICOR ngành du lịch Bình Thuận tăng từ 3,0 (thời kỳ 1995 - 2000) lên 3,5 (thời kỳ sau năm 2000) phản ánh quy luật chi phí đầu tư biên ngày càng cao khi ngành chuyển dịch sang các khu nghỉ dưỡng cao cấp. Thêm vào đó, việc 31 dự án đã được cấp phép nhưng không thể khởi công do tắc nghẽn đền bù giải tỏa cho thấy sự cần thiết phải cải cách cơ chế quản lý đất đai của chính quyền địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tập trung nguồn vốn ngân sách hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông và cấp thoát nước. Ủy ban nhân dân tỉnh cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông Vận tải cần ưu tiên bố trí tối thiểu 1.370 tỷ đồng vốn hạ tầng giai đoạn 2001 - 2005 để hoàn thành tuyến đường ven biển từ LaGi đi Phan Rí và nâng cấp trục Phan Thiết - Mũi Né. Đồng thời, nghiên cứu phát hành trái phiếu công trình đô thị nhằm bù đắp khoản thiếu hụt ngân sách khoảng 421 tỷ đồng.

Thứ hai, cải cách quyết liệt công tác đền bù giải phóng mặt bằng và quỹ đất sạch. Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các huyện thành lập tổ công tác chuyên trách, cam kết xử lý dứt điểm các vướng mắc đền bù cho 31 dự án đang tồn đọng trong thời hạn 12 tháng. Rút ngắn thời gian thẩm định giao đất từ 60 ngày xuống 30 ngày để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư chiến lược.

Thứ ba, đẩy mạnh kênh tín dụng trung dài hạn và kích hoạt thị trường vốn. Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh Bình Thuận cần chỉ đạo các ngân hàng thương mại mở rộng hạn mức cho vay trung dài hạn cho các dự án du lịch sinh thái, duy trì tốc độ tăng trưởng dư nợ dịch vụ trên 40%/năm. Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa 100% doanh nghiệp nhà nước ngành du lịch, nâng cao quy mô vốn để đủ điều kiện niêm yết trên thị trường chứng khoán giai đoạn 2005 - 2010.

Thứ tư, tái khởi động chiến lược xúc tiến đầu tư FDI quy mô lớn. Sở Thương mại và Du lịch chủ trì xây dựng các gói dự án kêu gọi vốn FDI giai đoạn 2005 - 2010 với mục tiêu thu hút từ 50 đến 70 triệu USD. Hướng trọng tâm thu hút dòng vốn quốc tế vào các tổ hợp thể thao biển, trung tâm hội nghị quốc tế và khu du lịch nghỉ dưỡng chất lượng cao tại Tuy Phong và Hàm Thuận Nam.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước tại Bình Thuận (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Du lịch, Sở Tài chính) sử dụng tài liệu để đánh giá thực trạng nguồn vốn, từ đó xây dựng kế hoạch phân bổ 1.370 tỷ đồng vốn hạ tầng và ban hành quy chế ưu đãi thuế, tiền thuê đất phù hợp với từng địa bàn.

Thứ hai, các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh ứng dụng số liệu phân tích dư nợ (tăng trưởng 85,91%/năm ngành dịch vụ) để thiết kế các gói sản phẩm tín dụng trung - dài hạn chuyên biệt, áp dụng linh hoạt tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay cho các dự án khách sạn, resort.

Thứ ba, các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước và quốc tế sử dụng luận văn như một báo cáo nghiên cứu khả thi để nắm bắt cơ cấu thị trường, tiềm năng 190 km bờ biển và nhận diện cơ hội đầu tư tại các địa bàn mới nổi như Tuy Phong, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân với tổng mức vốn dự kiến 5.296 tỷ đồng đến năm 2010.

Thứ tư, các giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành tài chính - ngân hàng và kinh tế du lịch tham khảo khung lý thuyết Harrod - Domar, phương pháp tính hệ số ICOR ngành (3,0 đến 3,5) và mô hình phân tích chuỗi dữ liệu thực tế tại một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.

Câu hỏi thường gặp

Nhu cầu vốn đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2001 - 2010 là bao nhiêu? Theo tính toán dựa trên hệ số ICOR bằng 3,5 và mục tiêu tăng trưởng GDP du lịch, tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn ngành trong giai đoạn 2001 - 2010 là 5.296 tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn 2001 - 2005 cần 1.148 tỷ đồng và giai đoạn 2006 - 2010 cần 4.148 tỷ đồng để đưa tỷ trọng GDP du lịch đạt 14,8% toàn tỉnh.

Nguồn vốn nào đóng vai trò nòng cốt trong việc xây dựng cơ sở lưu trú du lịch tại Bình Thuận? Nguồn vốn từ các doanh nghiệp tư nhân ngoài tỉnh, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh, giữ vai trò chủ đạo. Khối doanh nghiệp này chiếm 137 dự án với tổng vốn 1.090 tỷ đồng, tương đương 67,7% tổng vốn đầu tư của khối doanh nghiệp trong nước giai đoạn 1994 - 2002.

Tại sao hệ số ICOR ngành du lịch Bình Thuận lại tăng từ mức 3,0 lên 3,5 sau năm 2000? Hệ số ICOR tăng phản ánh xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang phân khúc nghỉ dưỡng cao cấp, sân golf và khu resort 4 sao với suất đầu tư ban đầu lớn. Đồng thời, chi phí giải phóng mặt bằng và đầu tư hạ tầng kỹ thuật kết nối tăng cao khiến lượng vốn cần thiết để tạo ra một đơn vị doanh thu tăng lên.

Ngân sách nhà nước đã đầu tư bao nhiêu cho các công trình hạ tầng du lịch Bình Thuận? Giai đoạn 1994 - 2003, ngân sách đã triển khai 130 dự án hạ tầng phục vụ du lịch với tổng vốn 120,104 tỷ đồng. Trong đó, đầu tư giao thông chiếm tỷ trọng cao nhất với 81,342 tỷ đồng, cấp thoát nước 22,834 tỷ đồng, cấp điện 7,676 tỷ đồng và xử lý rác thải 1,250 tỷ đồng.

Trở ngại lớn nhất đối với việc giải ngân vốn đầu tư du lịch tại Bình Thuận là gì? Trở ngại lớn nhất là công tác đền bù giải phóng mặt bằng chậm trễ, khiến 31 dự án dù đã được chấp thuận chủ trương nhưng chưa thể thi công. Ngoài ra, việc thiếu hụt 421 tỷ đồng vốn hạ tầng kỹ thuật ngoài ngân sách cũng làm chậm tiến độ các dự án trọng điểm.

Kết luận

  • Du lịch Bình Thuận đã tạo bước đột phá ấn tượng với doanh thu đạt 226 tỷ đồng và đón 1.000.000 lượt khách vào năm 2002, khẳng định vị thế trung tâm nghỉ dưỡng biển tầm cỡ quốc gia.
  • Dòng vốn doanh nghiệp tư nhân ngoài tỉnh (chiếm 67,7% tổng vốn với 1.090 tỷ đồng) và tín dụng trung dài hạn (tăng trưởng 49,6%/năm) là hai động lực tài chính quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng ngành.
  • Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở sự thiếu hụt nguồn lực ngân sách cho hạ tầng (chênh lệch 421 tỷ đồng giai đoạn 2001 - 2005) cùng 31 dự án bị đình trệ do vướng mắc mặt bằng.
  • Mục tiêu giai đoạn 2001 - 2010 đòi hỏi tỉnh phải huy động thành công 5.296 tỷ đồng nhằm nâng tỷ trọng GDP du lịch lên mức 14,8% vào năm 2010 theo phương án quy hoạch đã phê duyệt.
  • Lộ trình thực hiện cần ưu tiên giải phóng mặt bằng dứt điểm trong 12 tháng, kết hợp phát hành trái phiếu công trình và đa dạng hóa nguồn vốn FDI để phát triển du lịch bền vững.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã hệ thống hóa cơ sở khoa học và định lượng hóa chính xác nhu cầu vốn của ngành du lịch Bình Thuận. Các cấp quản lý và nhà đầu tư cần nhanh chóng hiện thực hóa các giải pháp tài chính đồng bộ này để đưa du lịch địa phương cất cánh mạnh mẽ trong thập niên 2001 - 2010.