Chương 1. Giới thiệu về bối cảnh, thực trạng BĐKH tại tỉnh Đắk Lắk, vấn đề chính sách, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, bố cục luận văn. Khung phân tích và kinh nghiệm nâng cao năng lực thích ứng với BĐKH. Gồm các định nghĩa, lược khảo các tài liệu, giải pháp đưa ra và khung phân tích liên quan để đưa ra khung phân tích cho đề tài.
Thiết kế nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu, xây dựng bảng hỏi, mẫu khảo sát. Đánh giá năng lực cộng đồng dân tộc thiểu số trồng cà phê. Đánh giá năng lực của cộng đồng từ đó đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu của cộng đồng, Phân tích những tác động của hạn hán đến cộng đồng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chương 5. Kết luận và kiến nghị. Tổng kết những kết quả nghiên cứu và đưa ra kiến nghị đối với Chính phủ, UBND tỉnh và UBND xã. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2 KHUNG PHÂN TÍCH VÀ KINH NGHIỆM NÂNG CAO NĂNG LỰC THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 2.1 Các khái niệm: Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm những con người sống với nhau ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội và cùng chia sẻ lợi ích vật chất hoặc tinh thần.
Có thể phân ra hai loại cộng đồng, gồm cộng đồng địa lý và cộng đồng chức năng. Cộng đồng địa lý là những người cùng cư trú trong một địa bàn, có chung đặc điểm kinh tế xã hội, có mối quan hệ ràng buộc với nhau. Cộng đồng chức năng có thể cư trú gần hoặc xa nhau nhưng có chung lợi ích, sự liên kết của cộng đồng này dựa trên nghề nghiệp, sở thích, sự hợp tác hay các hiệp hội (Lê Chí An, 2005). Nâng cao năng lực cộng đồng là giúp cộng đồng nhận ra được những tài sản của cộng đồng như đất đai, cơ sở, con người,… từ đó có thể sử dụng, quản lý các nguồn lực này một cách hiệu quả (Lê Chí An, 2005).
Dân tộc thiểu số được định nghĩa là dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số. Dân tộc đa số là dân tộc có số dân lớn hơn 50% số dân của cả nước (Nghị định 05/2011/NĐ-CP). Thích ứng là quá trình điều chỉnh theo hiện tại để từ đấy hạn chế những thiệt hại do BĐKH hoặc tận dụng các cơ hội để phát triển. Thích ứng với BĐKH thường đi đôi với quản lý rủi ro nhằm giải quyết bền vững các vấn đề liên quan đến xã hội, kinh tế và môi trường (IMHEN và UNDP, 2015).
Năng lực thích ứng là khả năng, hay những tiềm năng mà một hệ thống, một cộng đồng điều chỉnh thành công với BĐKH nhằm giảm nhẹ những tác động, tận dụng các cơ hội hoặc đương đầu với BĐKH (IMHEN và UNDP, 2015).2 Khung phân tích về thích ứng với BĐKH: Để phân tích năng lực cộng đồng của dân tộc thiểu số trồng cà phê với tình trạng thiếu nước tưới và hình thành khung phân tích cho đề tài, tác giả nghiên cứu 3 khung phân tích và các đề tài về BĐKH, sinh kế, đồng bào dân tộc thiểu số. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Các nghiên cứu để tác giả hình thành nên khung phân tích của đề tài gồm: Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thích ứng với BĐKH của IMHEN và UNDP năm 2015; Đánh giá kinh tế của hoạt động thích ứng BĐKH trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam của Thân Thị Hiền và cộng sự năm 2010; Nghiên cứu về khái niệm và các khung mô hình đánh giá tổn thương do thiên tai trên thế giới – đánh giá khả năng áp dụng tại Việt Nam của Nguyễn Thị Vĩnh Hà năm 2016.1 Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thích ứng với BĐKH của Chương trình môi trường liên hiệp Quốc và Bộ Tài nguyên môi trường năm 2015 (IMHEN và UNDP, 2015) IMHEN và UNDP (2015) đã đưa ra khung phân tích về việc hình thành những thiên tai như hình 2. Theo đó, thiên tai được hình thành do sự tương tác giữa thời tiết khí hậu cực đoan, mức độ phơi bày trước hiểm họa và tính dễ bị tổn thương của cộng đồng. Vì vậy để quản lý rủi ro tốt tại địa phương, từng bước thích ứng với BĐKH của một cộng đồng cần xác định rõ được mức độ phơi bày trước hiểm họa và tình trạng dễ bị tổn thương đồng thời xác định được hiểm họa thiên tai thực sự mà địa phương đang hoặc có thể sẽ gặp phải.1 Khung phân tích về rủi ro thiên tai Nguồn: IMHEN và UNDP, 2015 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Trong đó, khí hậu cực đoan được nghiên cứu định nghĩa là sự xuất hiện cao hơn hoặc thấp hơn gia trí ngưỡng của một yếu tốt thời tiết.
Mức độ phơi bày trước hiểm họa chỉ vị trí của con người, sinh kế, dịch vụ môi trường, tài nguyên, cơ sở hạ tầng, tài sản kinh tế, xã hội, văn hóa ở những nơi chịu ảnh hưởng bởi các hiện tượng thời tiết tự nhiên, vì thế đó là những đối tượng của tồn tại và hư hỏng tiềm tàng trong tương lai. Tính dễ bị tổn thương là xu hướng hay khuynh hướng bị ảnh hưởng xấu. Khuynh hướng này cấu thành nên đặc tính bên trong của nhóm bị ảnh hưởng. Tình trạng dễ bị tổn thương là kết quả của nguồn lực xã hội, điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, thể chế, tài nguyên thiên nhiên, môi trường và quy trình.
Thiên tai là các hiểm họa tự nhiên tương tác với với các điều kiện dễ bị tổn thương của xã hội làm thay đổi nghiêm trọng chức năng bình thường của một cộng đồng hay một xã hội, ảnh hưởng bất lợi đến con người, vật chất, đòi hỏi phải có những đối phó khẩn cấp. Ưu nhược điểm của khung phân tích của IMHEN và UNDP (2015) Khung phân tích của IMHEN và UNDP (2015) đã chỉ rõ những yếu tố hình thành nên thiên tai với người dân, ta thấy rủi ro thiên tai xảy ra với người dân như hạn hán, lũ lụt,…tác động được đến người dân là sự kết hợp giữa hiện tượng khí hậu cực đoan với đặc tính bên trong của nhóm cộng đồng và vị trí của nhóm cộng đồng, những nơi dễ bị tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan. Phân tích những tác động của BĐKH cần chú ý đến vị trí, các đặc tính bên trong của nhóm cộng đồng này, để từ đó đề ra các giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro và thích ứng với BĐKH. Khung phân tích của IMHEN và UNDP (2015) chưa thể hiện được phương pháp để phân tích nội lực bên trong của cộng đồng, vị trí dễ bị tổn thương cũng như các phương pháp để thích ứng với BĐKH.2 Đánh giá kinh tế của hoạt động thích ứng BĐKH trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam của Thân Thị Hiền và cộng sự năm 2010 Để đánh giá năng lực thích ứng với BĐKH, Thân Thị Hiền và cộng sự (2010) đã đưa ra khung phân tích tập trung vào 5 nguồn lực bao gồm: nguồn lực con người, nguồn lực tài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 nguyên thiên nhiên, nguồn lực xã hội, nguồn lực vật chất, và nguồn lực tài chính (Hình 2.2 Khung phân tích tính dễ tổn thương và năng lực thích ứng Nguồn: Thân Thị Hiền và cộng sự năm 2010 Trong đó, nguồn lực con người được đánh giá thông qua kiến thức, sự nhận thức của con người về các rủi ro BĐKH, các kỹ năng của con người, kỹ năng của cộng đồng, thành phần của cộng đồng, sức khỏe và số lượng người lao động trong cộng đồng.
Nguồn lực xã hội được thể hiện thông qua vai trò của những tổ chức xã hội như hội phụ nữ, hội nông dân,…Sự liên kết của các cá nhân trong cộng đồng và những thông tin của cộng đồng nhằm thích ứng với BĐKH và có được các thông tin cảnh báo sớm. Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên được đánh giá thông qua những tiềm năng về hệ sinh thái, đất đai, nguồn nước,… Nguồn lực vật chất, phương tiện được đánh giá thông qua những vật dụng, phương tiện sản xuất của người dân đặc biệt chú ý đến những vật dụng thuận lợi trong BĐKH, các công trình hỗ trợ để chống lại BĐKH của cộng đồng. Nguồn lực về tài chính được thể hiện thông qua khả năng đa dạng hóa thu nhập, nguồn lợi và độ lớn của thu nhập, sự tác động đến các thu nhập này khi xảy ra BĐKH. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Ưu nhược điểm của khung phân tích Khung phân tích năng lực thích ứng của Thân Thị Hiền (2010) đã phân tích được những năng lực, nguồn lực có sẵn và tiềm năng của cộng đồng để thích ứng với BĐKH đó là vốn con người, vốn xã hội, nguồn lực tài chính, vốn tài nguyên thiên nhiên, vốn phương tiện vật chất.
Khung phân tích đã phân tích được tính dễ tổn thương và mức độ phơi bày trước hiểm họa qua khung sinh kế bền vững của DFID. Sinh kế bền vững có quan hệ chặt chẽ với với ứng phó và phục hồi sau các cú sốc để duy trì các nguồn lực tự nhiên nên việc sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững trong đánh giá tính dễ tổn thương và năng lực thích ứng được đánh giá là phù hợp và được sử dụng trong nhiều nghiên cứu về thích ứng với BĐKH (Nguyễn Thị Vĩnh Hà, 2016). Tuy nhiên khung phân tích của Thân Thị Hiền (2010) chưa thể hiện rõ được sự hình thành nên thiên tai đối với cộng đồng cũng như chưa đề cập đến phương pháp để thích ứng với BĐKH sau khi phân tích được năng lực hiện có của cộng đồng.3 Mô hình của UNISDR năm 2004 về giảm nhẹ rủi ro thảm họa UNISDR (2004) đã đặt các yếu tố dễ bị tổn thương và các phương pháp giảm thiểu rủi ro đối với BĐKH trong một bối cảnh phát triển bền vững. Khung phân tích đã đưa ra được các giải pháp mang tính lâu dài nhằm thích ứng với BĐKH là hệ thống cảnh báo sớm, sự chuẩn bị sẵn sàng để ứng phó với BĐKH,… Khung phân tích phù hợp với đề tài ở khía cạnh đưa ra các giải pháp mang tính bền vững để thích ứng với BĐKH.
Khung phân tích đã chỉ ra các giải pháp giảm rủi ro tai biến, thích ứng với BĐKH sau khi đã xác định được rủi ro và phân tích tác động của BĐKH đến cộng đồng là nâng cao nhận thức của cộng đồng, tích lũy kiến thức, các cam kết chính trị, áp dụng các biện pháp giảm rủi ro, cảnh báo sớm (Nguyễn Thị Vĩnh Hà, 2016).