CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU: 1.1 Lý do chọn đề tài: - Sự phản ứng của cán cân thương mại đối với sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái là một đề tài cơ bản trong nền kinh tế mở. Có hai lý do làm cho chủ đề này quan trọng. Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách thường quan tâm đến việc liệu tỷ lệ cán cân thương mại trên tổng thương mại có ở mức hợp lý hay không. Việc nhận thức được rằng sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái ảnh hưởng như thế nào đến cán cân thương mại trong dài hạn sẽ giúp các nhà chính sách đặt ra mục tiêu cán cân thương mại hợp lý.
Thứ hai, sự biến động trong cán cân thương mại ảnh hưởng đến thu nhập quốc gia trong ngắn hạn. Vì vậy, việc hiểu được tác động của sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại có thể giúp các nhà chính sách đặt ra mục tiêu đối với thu nhập và cấu trúc thương mại của quốc gia. - Việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái còn đặc biệt quan trọng hơn đối với các nền kinh tế đang phát triển, nơi dòng chảy thương mại đóng vai trò dẫn dắt cán cân thanh toán bởi sự phát triển yếu kém của thị trường vốn. - Theo lẽ thường, sự mất giá thực của đồng nội tệ làm cho xuất khẩu rẻ hơn và nhập khẩu đắt hơn và do đó sẽ cải thiện cán cân thương mại của quốc gia.
Trên cơ sở này, các nước trên thế giới thường nhắm vào chính sách “phá giá cạnh tranh” trong một nỗ lực nhằm cải thiện vị thế giao thương của mình. Tuy nhiên, chính sách này không phải luôn thành công trong mọi trường hợp. - Theo cách tiếp cận độ co giãn, vì độ co giãn ngắn hạn thường nhỏ hơn so với độ co giãn dài hạn, tác động ngắn hạn và dài hạn của sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái có thể khá khác nhau. Cụ thể, cán cân thương mại có thể không được cải thiện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 trong ngắn hạn.
Một lý do cho sự khác biệt giữa tác động ngắn hạn và dài hạn đó là khối lượng giao dịch thường chậm điều chỉnh trước sự biến động của tỷ giá do trong vài tháng đầu sau một sự mất giá thực của đồng nội tệ, các hợp đồng xuất khẩu và nhập khẩu đã được ký kết nhiều tháng trước và phản ứng trong ngắn hạn của cán cân thương mại được điều khiển bởi các hợp đồng này. Vì thế, ban đầu, số lượng xuất khẩu và nhập khẩu sẽ chỉ thay đổi chút ít nhưng giá của hàng nhập khẩu sẽ tăng lên nên sự mất giá thực của đồng nội tệ không gây tác động ngay lập tức đến cán cân thương mại mà vẫn làm xấu đi cán cân thương mại trong ngắn hạn. Tuy nhiên, qua thời gian, hàng xuất khẩu sẽ được giao dịch nhiều hơn và hàng nhập khẩu sẽ ít được giao dịch hơn do giá trị đồng nội tệ rẻ hơn, do đó cán cân thương mại được cải thiện trong dài hạn. Magee (1973) đặt tên đây là hiện tượng đường cong J, vì trong trường hợp này, đường phản ứng của cán cân thương mại trước sự thay đổi của tỷ giá hối đoái có hình dáng tương tự như chữ cái J.
- Tuy nhiên, theo các nghiên cứu trước đây, hiện tượng đường cong J hầu như chỉ được tìm thấy ở các nền kinh tế phát triển và tiên tiến, nơi mà ngân hàng trung ương có cơ chế tự chủ cho việc thực hiện chính sách tiền tệ. Hiệu lực của hiện tượng đường cong J còn chưa thật sự phù hợp đối với các nền kinh tế đang phát triển, nơi mà tỷ giá hối đoái bị kiểm soát nhiều hơn bởi ngân hàng trung ương và bởi việc thực hiện tỷ giá hối đoái cố định hay thả nổi có quản lý (theo Phouphet Kyophilavong, Muhammad Shahbaz, Gazi Salah Uddin (2013)). - Đối với Việt Nam, chính sách tăng trưởng dựa vào xuất khẩu là một trong những chính sách quan trọng. Việt Nam có xu hướng muốn gia tăng xuất khẩu và cải thiện cán cân thương mại mà không ảnh hưởng sự ổn định kinh tế vĩ mô.
Có rất nhiều sự lựa chọn để đạt được mục tiêu này, ví dụ như sử dụng thuế quan và trợ cấp xuất khẩu. Tuy nhiên, việc tham gia vào các hiệp định thương mại song phương và đa phương đòi hỏi Việt Nam phải giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan khác. Vì thế, một lựa chọn đã thu hút sự chú ý của các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam là dựa vào chính sách tỷ giá. Điều này chủ yếu là do nỗi sợ hãi rằng những đợt giảm giá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 lớn của các nước láng giềng sẽ làm xói mòn khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam.
Do vậy, áp lực đang gia tăng tại Việt Nam đối với việc giảm giá trị tiền Đồng. Vì lẽ đó, việc xác định rõ mối quan hệ giữa sự mất giá (phá giá) tiền tệ và sự biến động của cán cân thương mại là vô cùng cần thiết để Việt Nam có thể thiết lập một chính sách tỷ giá thích hợp.2 Mục tiêu nghiên cứu: Xuất phát từ những ý tưởng trên, bài luận văn này được thực hiện với mục tiêu chính là kiểm tra sự tồn tại của giả thuyết đường cong J đối với thương mại song phương của Việt Nam với 20 đối tác thương mại lớn nhất, với hai trường hợp: tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại là đối xứng và tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại là không đối xứng.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: - Bài luận văn này phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại song phương giữa Việt Nam với hai mươi đối tác thương mại chính, bao gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Malaysia, Australia, Đức, Hongkong, Indonesia, Ấn Độ, Vương Quốc Anh, Hà Lan, Pháp, Italy, Philippines, Nga, Thụy Sỹ và Bỉ. - Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các biến có tác động đến quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và các đối tác thương mại: Cán cân thương mại song phương giữa Việt Nam và 20 nước đối tác, được định nghĩa là tỷ lệ xuất khẩu trên nhập khẩu. Chỉ số GDP của Việt Nam và của 20 nước đối tác.
Chỉ số tỷ giá hối đoái thực song phương giữa Việt Nam và 20 nước đối tác. - Phạm vi nghiên cứu: Bài luận văn sử dụng dữ liệu theo quý trong khoảng thời gian từ quý 1 năm 1999 đến quý 4 năm 2014. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Kết cấu của luận văn: Bài luận văn này được chia thành 5 phần. Phần 1 trình bày các nội dung chính của luận văn, lý do cần phải thực hiện nghiên cứu này cũng như đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Phần 2 giới thiệu tổng quan các nghiên cứu trước đây liên quan đến hiệu ứng đường cong J, đây là nền tảng lý thuyết của đề tài. Phần 3 phác thảo về cách thu thập dữ liệu và phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài. Phần 4 trình bày, đánh giá về kết quả nghiên cứu thực nghiệm khi áp dụng phương pháp nghiên cứu trên. Phần cuối cùng - phần 5 tổng kết lại các kết quả nghiên cứu chính.
Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu những hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY: - Từ lâu, các nhà kinh tế đã nhấn mạnh về mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại. Tuy nhiên, đến tận giữa thế kỷ 20 dựa trên sự phát triển trong phân tích kinh tế vĩ mô và kinh tế lượng, một số nghiên cứu mới bắt đầu trình bày các kết quả thực nghiệm liên quan đến chủ đề này. Ngay cả với sự hiện diện của dữ liệu thương mại, chủ đề này vẫn còn mang tính tranh luận cao và không đạt được sự đồng thuận về kết quả nghiên cứu.
- Hầu hết các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại đều xoay quanh cách tiếp cận “độ co giãn” với hai khái niệm song hành là điều kiện Marshall-Lerner (tiền thân là điều kiện Bickerdike-Robinson-Metzler) và lý thuyết đường cong J1.1 Điều kiện Bickerdike-Robinson-Metzler (B-R-M) và Điều kiện Marshall-Lerner (M-L): - Phương pháp tiếp cận độ co giãn thường được biết đến là điều kiện Bickerdike-Robinson-Metzler, với Bickerdike (1920) là người thực sự phát triển đầu tiên và đặt nền tảng cho phương pháp này bằng cách thiết lập mô hình giá nhập khẩu và xuất khẩu danh nghĩa là hàm của khối lượng nhập khẩu và xuất khẩu, sau đó Robinson (1947) và Metzler (1948) góp phần vào cách tiếp cận độ co giãn bằng cách làm rõ và cụ thể hóa những ý tưởng của Bickerdike. - Điều kiện này ngụ ý rằng sự thay đổi trong giá trị ngoại tệ của cán cân thương mại phụ thuộc vào độ co giãn cung và cầu nhập khẩu và xuất khẩu và khối 1 Nhìn chung, có bốn hướng tiếp cận chính cho chủ đề về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại, được trình bày theo thứ tự thời gian sau: (1) Lý thuyết tiêu chuẩn về thương mại quốc tế, gắn liền với đóng góp của Adam Smith với tác phẩm Wealth of Nations (1776) và David Ricardo với Political Economy and Taxation (1817); (2) Phương pháp tiếp cận “độ co giãn”, được biết đến đầu tiên là điều kiện Bickerdike (1920) – Robinson (1947) - Metzler (1948), tiếp theo được mở rộng thành điều kiện Marshall (1923) - Lerner (1944) và sau đó hình thành lý thuyết đường cong J (được giới thiệu đầu tiên bởi Magee (1973)); (3) Phương pháp “chi tiêu” của Keynes, được mô hình hóa vào đầu những năm 1950 bởi Meade (1951) và Alexander (1952); (4) Phương pháp tiếp cận tiền tệ với những đóng góp chủ yếu của Harry Johnson (1972) và Jacob Frenkel (1975). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 lượng ban đầu của thương mại.1 tóm tắt các trường hợp độ co giãn của cầu nước ngoài khi một quốc gia giảm giá đồng nội tệ. Sự giảm giá trong nước Sản phẩm trong nước trở nên rẻ hơn Cầu nước ngoài không co giãn Cầu nước ngoài co giãn Khối lượng xuất khẩu không đổi, Khối lượng xuất khẩu tăng, trong trong khi giá hàng nhập khẩu giảm khi giá hàng nhập khẩu giảm Hình 2.1: Cách tiếp cận độ co giãn - Trường hợp cầu nước ngoài - Như mô tả trong hình 2.