Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh có tổng diện tích tự nhiên 2.095 km2 và quy mô dân số thực tế vượt trên 10 triệu người, giữ vai trò đầu tàu kinh tế khi đóng góp khoảng 33% tổng thu ngân sách quốc gia và 30% GDP toàn vùng Nam Bộ. Tuy nhiên, đô thị này đang đối mặt với thách thức nghiêm trọng từ hiện tượng ngập lụt đô thị dưới tác động kép của biến đổi khí hậu toàn cầu, chế độ bán nhật triều Biển Đông và tốc độ bê tông hóa nhanh chóng. Theo ước tính, diện tích khu vực ngập lụt của thành phố lên tới khoảng 140 km2 với 85% điểm ngập tập trung tại khu vực nội thành, gây thiệt hại kinh tế trực tiếp ước tính khoảng 8 tỷ đồng mỗi năm và tổng thiệt hại thiên tai trong giai đoạn 10 năm lên đến 202 tỷ đồng (tương đương 12,6 triệu USD).

Luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế phát triển của tác giả Hứa Thị Mỹ Hương thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2013 nhằm giải quyết các mục tiêu cốt lõi: xác định nhận thức, thái độ và hành vi thích ứng của hộ dân trước tình trạng ngập nước; lượng hóa các yếu tố tác động đến quyết định áp dụng giải pháp ứng phó; đồng thời đánh giá hiệu quả thực thi các chính sách chống ngập của chính quyền đô thị. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 3 khu vực tiêu biểu đại diện cho vùng lõi nội thành, vùng ven và ngoại thành gồm Quận 6, Quận Thủ Đức và Huyện Nhà Bè với chuỗi số liệu khảo sát thực địa năm 2013 cùng dữ liệu thủy văn giai đoạn 2008 - 2012.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách công, hỗ trợ nâng cao năng lực chống chịu cho 47,8% số phường xã đang bị ngập thường xuyên (tương ứng 154 trên tổng số 322 phường xã), hướng tới mục tiêu giảm thiểu tổn thất sinh kế cho hơn 1,85 triệu cư dân đô thị trước nguy cơ ngập lụt cực đoan trong tương lai.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng khung phân tích liên ngành dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa hai trụ cột lý thuyết lớn:

Thứ nhất là Lý thuyết nhận thức rủi ro (Risk Perception Theory), kế thừa các công trình nền tảng của Chauncey Starr (1969), Daniel Kahneman và Amos Tversky (1974), Mary Douglas và Aaron Wildavsky (1982), Paul Slovic (1993) cùng Khung khuếch đại xã hội về rủi ro (SARF) của Kasperson và cộng sự (1988). Khung lý thuyết này chỉ ra rằng nhận thức rủi ro của con người được định hình qua lăng kính tâm lý học, các yếu tố văn hóa - xã hội và quá trình truyền thông. Mối quan hệ tương tác diễn ra theo chu trình: Nhận thức về nguy cơ (hiểu biết về 4 đợt triều cường hàng năm hay lượng mưa cực đoan trên 100 mm) dẫn đến Thái độ (lạc quan, chấp nhận rủi ro hoặc sợ hãi, bi quan), từ đó quyết định Hành vi ứng phó thực tế của hộ gia đình.

Thứ hai là Lý thuyết khả năng thích ứng (Adaptability Theory) trong bối cảnh biến đổi khí hậu của Neil Adger (2003), Barry Smit và Olga Pilifosova (2001), Mohan Munasinghe và Rob Swart (2005) kết hợp nghiên cứu nguồn lực thích ứng của Satterthwaite và cộng sự (2007). Khung lý thuyết phân định rõ hai hình thái: thích ứng tự phát mang tính chủ động của cá nhân/hộ gia đình và thích ứng có kế hoạch từ phía chính quyền. Bốn khái niệm trọng tâm xuyên suốt nghiên cứu bao gồm: khả năng thích ứng, khoảng cách thích ứng, tính dễ bị tổn thương sinh kế và nhận thức hiểm họa tự nhiên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi trực tiếp với quy mô mẫu 180 hộ gia đình tại 3 địa bàn: Quận 6 (khu vực kênh Tân Hóa - Lò Gốm, 60 hộ), Quận Thủ Đức (phường Hiệp Bình Chánh ven sông Sài Gòn, 60 hộ) và Huyện Nhà Bè (xã Phú Xuân ven sông Nhà Bè, 60 hộ). Bảng câu hỏi gồm 46 chỉ tiêu được cấu trúc thành 5 phần chi tiết, đánh giá từ đặc điểm nhân khẩu, hiện trạng ngập, tác động sinh kế đến mức độ sẵn lòng chi trả.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng là kỹ thuật chọn mẫu định ngạch kết hợp thuận tiện (quota sampling), thực hiện theo quy tắc bước nhảy cơ học: cứ cách 3 căn nhà chọn phỏng vấn 1 hộ dân cho đến khi đủ số lượng phân bổ tại từng khu vực. Thời gian thực hiện trung bình cho mỗi cuộc phỏng vấn là 30 phút.

Về phương pháp phân tích, tác giả kết hợp thống kê mô tả với mô hình kinh tế lượng Hồi quy Logistic nhị phân (Binary Logistic Regression) xử lý trên phần mềm chuyên dụng Stata 11. Lý do lựa chọn mô hình Binary Logistic xuất phát từ đặc tính của biến phụ thuộc là biến nhị phân rời rạc mang hai giá trị: nhận giá trị 1 khi hộ gia đình quyết định áp dụng các giải pháp thích ứng và nhận giá trị 0 khi không áp dụng. Mô hình cho phép ước lượng chuẩn xác hệ số hồi quy và tỷ số chênh (Odds Ratio) của 7 biến giải thích độc lập gồm: Nhận thức nguyên nhân ngập, Số tiền sẵn lòng chi trả, Hành động thích ứng, Phương án định cư tương lai, Mức thu nhập hộ gia đình, Tình trạng sở hữu nhà ở và Trình độ học vấn của chủ hộ. Toàn bộ quy trình khảo sát thực địa và xử lý dữ liệu được tiến hành hoàn tất trong tháng 8 năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm từ 180 hộ dân với 902 nhân khẩu đã mang lại những phát hiện quan trọng về mặt kinh tế - xã hội:

Thứ nhất, về đặc điểm dân sinh và nguồn lực kinh tế, lực lượng lao động chính chiếm 59,6% (538 người), trong khi nhóm đối tượng phụ thuộc gồm trẻ em và người già chiếm 31,3% (282 người). Tỷ lệ hộ sống trong nhà cấp 4 chiếm đa số tuyệt đối với 76,6%, nhà cấp 3 chiếm 20,5% và chỉ có 2,9% sở hữu nhà kiên cố cấp 1, cấp 2. Cơ cấu thu nhập cho thấy 68,8% hộ dân có thu nhập trung bình từ 2 đến dưới 10 triệu đồng/tháng, 28,8% đạt trên 10 triệu đồng/tháng và 2,4% thuộc diện nghèo với thu nhập dưới 2 triệu đồng/tháng. Thời gian sinh sống bình quân của các hộ tại khu vực ngập là 22 năm, hộ lâu nhất lên tới 63 năm.

Thứ hai, về hiện trạng ngập úng, mực nước đỉnh triều đo tại trạm Phú An liên tục tăng qua các năm, từ mức 1,55 m năm 2008 lên đỉnh kỷ lục 1,62 m năm 2012 (vượt báo động cấp 3 tới 0,12 m). Số điểm ngập do triều cường tuy giảm từ 95 điểm năm 2008 xuống còn 3 điểm năm 2012 nhờ các nỗ lực đắp bờ bao cục bộ, nhưng mức độ ngập sâu và thời gian ngập kéo dài vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến 100% hộ dân khảo sát ven sông Sài Gòn và sông Nhà Bè.

Thứ ba, về hành vi thích ứng tại chỗ, các hộ gia đình chủ yếu áp dụng các giải pháp công trình vật lý ngắn hạn: nâng nền nhà, xây bờ bao trước cửa, tôn cao sàn gác và lắp đặt máy bơm mini. Khoảng 45% số hộ đã đầu tư kinh phí từ 10 triệu đến 30 triệu đồng cho việc nâng nền chống ngập.

Thứ tư, kết quả hồi quy mô hình Logistic 7 biến cho thấy 4 nhân tố có tác động tích cực và mang ý nghĩa thống kê cao đến quyết định thích ứng (p < 0,05) gồm: Trình độ học vấn, Thu nhập hộ gia đình, Nhận thức nguyên nhân ngập và Tình trạng sở hữu nhà. Đặc biệt, các chủ hộ sở hữu nhà riêng có xác suất quyết định đầu tư thích ứng cao gấp 3,2 lần so với các hộ đi thuê trọ.

Thảo luận kết quả

Kết quả hồi quy phản ánh bản chất kinh tế rõ rệt: năng lực thích ứng của hộ gia đình phụ thuộc mật thiết vào mức độ tích lũy tài sản và tính pháp lý của nơi ở. Những hộ có thu nhập trên 10 triệu đồng/tháng và sở hữu nhà riêng sẵn sàng chi trả các khoản kinh phí lớn trên 30 triệu đồng để cải tạo kết cấu nhà nhằm bảo vệ tài sản lâu dài. Ngược lại, nhóm lao động tự do (chiếm 30% mẫu khảo sát) và công nhân thuê trọ (chiếm 27%) thường chọn giải pháp đối phó tạm thời hoặc chấp nhận sống chung với ngập do hạn chế về tài chính và tâm lý không muốn đầu tư vào bất động sản đi thuê.

Phát hiện này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu quốc tế của Rawadee Jarungrattanapong (2011) tại Chiang Mai - Thái Lan khi chỉ ra rằng chi phí thiệt hại do ngập lụt chiếm tới 54,2% thu nhập của hộ nghèo nhưng chỉ chiếm 9,7% thu nhập của hộ khá giả. Đồng thời, nghiên cứu tái khẳng định luận điểm của Satterthwaite (2007) về mối liên hệ tỷ lệ thuận giữa quyền sở hữu tài sản, học vấn và năng lực giảm thiểu tính dễ tổn thương đô thị.

Các dữ liệu thực nghiệm trong nghiên cứu có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ tròn cơ cấu nghề nghiệp (lao động tự do 30%, công nhân 27%, nội trợ 17%, công chức 16%), biểu đồ cột phân tầng thu nhập hộ dân và bảng ma trận hệ số hồi quy Logistic. Việc trực quan hóa này giúp các cơ quan quản lý dễ dàng nhận diện phân khúc cư dân yếu thế để phân bổ nguồn lực trợ cấp xã hội hợp lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích định lượng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tăng cường năng lực thích ứng ngập lụt đô thị:

Thứ nhất, hoàn thiện và kiên cố hóa hệ thống công trình ngăn triều, đê bao kết hợp nạo vét khơi thông dòng chảy. Cơ quan chủ trì thực hiện là Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn TP.HCM phối hợp cùng UBND các quận huyện ven sông (Quận 6, Thủ Đức, Nhà Bè). Mục tiêu cụ thể là gia cố 100% các đoạn bờ bao xung yếu, đảm bảo an toàn tuyệt đối trước các đợt đỉnh triều vượt mức 1,60 m. Lộ trình triển khai tập trung hoàn thành trong giai đoạn 2014 - 2016.

Thứ hai, thiết lập gói tín dụng vi mô ưu đãi hỗ trợ hộ nghèo và cận nghèo cải tạo nhà ở thích ứng ngập nước. Cơ quan thực hiện là Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội TP.HCM phối hợp với chính quyền cơ sở và Hội Phụ nữ. Mục tiêu giải ngân các khoản vay ưu đãi từ 20 đến 50 triệu đồng/hộ với lãi suất thấp cho 76,6% hộ dân đang sinh sống trong nhà cấp 4 vùng trũng thấp để nâng nền, cải tạo hệ thống vệ sinh tự hoại. Thời gian thực hiện định kỳ hàng năm bắt đầu từ quý 1/2014.

Thứ ba, tích hợp bản đồ rủi ro ngập lụt vào quy hoạch đô thị và bảo vệ không gian trữ nước tự nhiên. Cơ quan phụ trách là Sở Quy hoạch - Kiến trúc cùng Ban Quản lý Thoát nước Đô thị. Mục tiêu kiểm soát nghiêm ngặt việc san lấp kênh rạch, duy trì tối thiểu 20% diện tích bề mặt thấm nước tự nhiên tại các dự án khu đô thị mới ở khu vực phía Nam thành phố. Kế hoạch triển khai xuyên suốt theo tầm nhìn quy hoạch giai đoạn 2015 - 2025.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông cộng đồng và phổ biến kiến thức phòng chống thiên tai đô thị. Chi cục Quản lý Đê điều và Phòng chống lụt bão thành phố chủ trì phối hợp với hệ thống truyền thông quận huyện. Mục tiêu nâng cao tỷ lệ nhận thức đúng về nguyên nhân ngập cho trên 85% dân cư tại 154 phường xã trọng điểm, giúp người dân chủ động các biện pháp tự phòng vệ trước mùa mưa lũ tháng 5 hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý đô thị (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Quản lý Hạ tầng Kỹ thuật TP.HCM). Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng từ 180 hộ dân để hoạch định các chương trình xóa giảm ngập, tính toán phương án đền bù giải tỏa và tối ưu hóa ngân sách công chống ngập hàng năm.

Nhóm thứ hai là các giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học thuộc các khối ngành Kinh tế phát triển, Quản lý môi trường, Xã hội học đô thị và Kỹ thuật công trình thủy. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình thiết kế bảng hỏi, phương pháp chọn mẫu định ngạch và ứng dụng mô hình hồi quy Binary Logistic 7 biến trong xử lý bài toán kinh tế môi trường.

Nhóm thứ ba là các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và tổ chức tài trợ quốc tế (Ngân hàng Thế giới - WB, Ngân hàng Phát triển Châu Á - ADB, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc - UNDP). Báo cáo cung cấp các chỉ số tin cậy về 59,6% lực lượng lao động chính và thực trạng sinh kế hộ nghèo để thiết kế các dự án viện trợ nâng cao năng lực chống chịu biến đổi khí hậu tại vùng đô thị ven biển Việt Nam.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp tư vấn xây dựng, cấp thoát nước và cung ứng vật liệu dân dụng. Các đơn vị này có thể khai thác dữ liệu về nhu cầu cải tạo nhà cửa (chi phí phổ biến từ 10 đến 30 triệu đồng) của 68,8% hộ dân để phát triển các giải pháp kỹ thuật phù hợp như cửa chống ngập gia đình, van một chiều thoát nước và vật liệu tôn nền nhẹ giá rẻ.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Đâu là những nguyên nhân chính gây nên tình trạng ngập nước nghiêm trọng tại TP.HCM theo nghiên cứu? Trả lời: Tình trạng ngập nước tại thành phố bắt nguồn từ sự kết hợp của các yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Yếu tố khách quan gồm chế độ bán nhật triều với đỉnh triều vượt 1,62 m, lượng mưa cực đoan trên 100 mm và địa hình trũng thấp có cao độ dưới 1 m. Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ tốc độ đô thị hóa nhanh làm bê tông hóa bề mặt, hệ thống cống xây dựng từ 50 năm trước đã xuống cấp và tình trạng rác thải gây tắc nghẽn dòng chảy tại các kênh rạch nội thành.

Câu hỏi 2: Những yếu tố kinh tế - xã hội nào quyết định trực tiếp đến hành vi thích ứng của hộ dân? Trả lời: Kết quả phân tích mô hình hồi quy Logistic xác nhận 4 yếu tố then chốt có ý nghĩa thống kê cao nhất gồm: Mức thu nhập hộ gia đình, Trình độ học vấn của chủ hộ, Nhận thức đúng về nguyên nhân gây ngập và Quyền sở hữu nhà ở. Những hộ có thu nhập từ 10 triệu đồng trở lên và có quyền sở hữu nhà chính chủ luôn chủ động chi trả từ 10 đến 50 triệu đồng để cải tạo công trình chống ngập kiên cố.

Câu hỏi 3: Vì sao các hộ gia đình đi thuê trọ lại có mức độ thích ứng thấp trước hiểm họa ngập úng? Trả lời: Các hộ đi thuê nhà (chủ yếu là công nhân chiếm 27% và lao động tự do chiếm 30% mẫu khảo sát) có mức độ thích ứng thấp do hai rào cản lớn: thiếu hụt nguồn lực tài chính với thu nhập dưới 5 triệu đồng/tháng và tâm lý cư trú ngắn hạn. Họ không có quyền pháp lý để can thiệp cải tạo kết cấu căn nhà, do đó chỉ áp dụng các biện pháp thụ động như kê cao đồ đạc hoặc chấp nhận di dời khi ngập nặng.

Câu hỏi 4: Chi phí bình quân mà các hộ dân tự bỏ ra để thích ứng với ngập nước là bao nhiêu? Trả lời: Theo số liệu khảo sát thực tế tại 3 quận huyện, mức chi phí thích ứng phổ biến nhất của các hộ gia đình dao động trong khoảng từ 10 triệu đến 30 triệu đồng (chiếm khoảng 45% số hộ khảo sát), chủ yếu dùng để nâng nền nhà và xây gờ chắn sóng. Đối với các hộ có điều kiện kinh tế khá giả chiếm 28,8% mẫu, chi phí đầu tư gia cố móng và cải tạo hệ thống thoát nước gia đình có thể vượt mức 50 triệu đồng.

Câu hỏi 5: Mô hình hồi quy Binary Logistic trong luận văn đóng góp giá trị gì cho công tác dự báo chính sách? Trả lời: Mô hình Logistic giúp chuyển hóa các biến định tính phức tạp như nhận thức rủi ro, tâm lý sở hữu nhà và hành vi xã hội thành các xác suất định lượng cụ thể. Thông qua hệ số tỷ số chênh Odds Ratio, các nhà hoạch định chính sách có thể lượng hóa chính xác mức độ thay đổi trong quyết định của người dân khi thu nhập hay trình độ học vấn tăng lên 1 đơn vị, từ đó tối ưu hóa các kịch bản can thiệp chính sách công.

Kết luận

  • Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Hứa Thị Mỹ Hương đã nghiên cứu thực chứng toàn diện về khả năng thích ứng ngập lụt của 180 hộ gia đình với 902 nhân khẩu tại Quận 6, Quận Thủ Đức và Huyện Nhà Bè thuộc TP.HCM.
  • Nghiên cứu đã chứng minh bằng mô hình định lượng rằng thu nhập, trình độ học vấn, quyền sở hữu nhà và nhận thức rủi ro là 4 trụ cột quyết định trực tiếp đến hành vi ứng phó ngập úng của cộng đồng dân cư đô thị.
  • Đóng góp khoa học nổi bật của đề tài là việc ứng dụng thành công mô hình hồi quy Binary Logistic 7 biến để lượng hóa chính xác tỷ số chênh lệch về năng lực thích ứng giữa các nhóm dân số có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau.
  • Kết quả khảo sát đã phản ánh rõ nét khoảng cách thích ứng giữa các dự án công trình của chính quyền với nhu cầu cải tạo hạ tầng thiết yếu tại chỗ của 76,6% hộ dân sống trong nhà cấp 4 vùng trũng ven sông.
  • Kế hoạch hành động giai đoạn tiếp theo cần tập trung kết hợp đồng bộ giữa việc kiên cố hóa hệ thống đê bao ngăn triều 1,60 m với triển khai các gói tín dụng vi mô 20 - 50 triệu đồng hỗ trợ hộ dân cải tạo nhà ở trước mùa mưa lũ.

Kính mời các nhà nghiên cứu, chuyên gia quy hoạch và các nhà hoạch định chính sách đô thị tiếp tục tham khảo, trích dẫn toàn văn công trình luận văn thạc sĩ này nhằm đóng góp thiết thực vào chiến lược phát triển đô thị bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu tại Thành phố Hồ Chí Minh.