Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vai trò là xương sống của nền kinh tế, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và ổn định an sinh xã hội. Tại tỉnh Gia Lai, số lượng doanh nghiệp đã có bước phát triển vượt bậc từ 305 đơn vị vào năm 2001 lên 2.421 doanh nghiệp năm 2009 và đạt ước tính 2.976 doanh nghiệp vào năm 2010, tương ứng tốc độ tăng trưởng bình quân 28,6%/năm. Khối DNNVV chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn, đóng góp 17% giá trị sản xuất toàn tỉnh (năm 2008) và chiếm 43% tổng doanh thu thuần của khối doanh nghiệp (năm 2009), đồng thời nộp ngân sách nhà nước đạt 396 tỷ đồng vào năm 2007.

Tuy nhiên, sự phát triển của DNNVV tại Gia Lai đang đối mặt với nhiều rào cản nội tại và môi trường kinh doanh: năng lực tài chính mỏng, công nghệ lạc hậu, khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức hạn chế và sự chậm trễ trong triển khai cơ chế hỗ trợ từ nhà nước. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là xác định các điểm nghẽn tài chính và đánh giá hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trên địa bàn. Mục tiêu nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng giai đoạn 2005–2010, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tài chính khả thi từ phía Nhà nước giai đoạn 2011–2015. Nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ kinh tế cho UBND tỉnh Gia Lai và các sở ngành nhằm hoàn thiện cơ chế phân bổ vốn, hỗ trợ thuế và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI đạt 53,3 điểm năm 2010), thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hai nền tảng lý thuyết cốt lõi: Lý thuyết tài chính công về can thiệp của Nhà nước đối với thất bại thị trường và Lý thuyết trung gian tài chính kết hợp cấu trúc vốn doanh nghiệp. Theo lý thuyết tài chính công, DNNVV thường gặp bất lợi về thông tin bất đối xứng và quy mô nhỏ, đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng các công cụ đòn bẩy như ưu đãi thuế suất, chi chuyển giao và tín dụng chính sách nhằm kích thích đầu tư tư nhân. Lý thuyết trung gian tài chính giải thích vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại và quỹ bảo lãnh tín dụng trong việc khơi thông dòng vốn cho khu vực sản xuất kinh doanh.

Các khái niệm chính được làm rõ bao gồm: doanh nghiệp nhỏ và vừa (xác định theo tiêu chí số lao động dưới 300 người hoặc vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP và phân loại 3 cấp siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP), cơ chế hỗ trợ tài chính vĩ mô, công cụ thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp 25%), chi ngân sách nhà nước và quỹ bảo lãnh tín dụng. Mô hình nghiên cứu so sánh bài học kinh nghiệm từ các quốc gia như Hàn Quốc (áp dụng hạn ngạch tín dụng bắt buộc 45%–80% cho DNNVV), Malaysia (thành lập Quỹ kỹ thuật công nghiệp 50 triệu USD), Thái Lan và Singapore (áp dụng biểu thuế lũy tiến ưu đãi cho doanh nghiệp quy mô nhỏ).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn 2005–2010. Dữ liệu thứ cấp trích xuất từ Niên giám thống kê tỉnh Gia Lai, Báo cáo của Cục Thuế, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Phát triển Chi nhánh Gia Lai và Báo cáo PCI của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa với cỡ mẫu gồm 215 DNNVV đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Gia Lai vào năm 2010. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng (stratified random sampling) theo 4 nhóm ngành nghề chính (thương mại 31%, dịch vụ 19%, công nghiệp - xây dựng - chế biến 47%, nông lâm nghiệp 3%) và theo 3 khu vực địa lý trọng điểm (thành phố Pleiku, thị xã An Khê, huyện Chư Sê và 14 huyện thị lân cận). Phương pháp phân tích bao gồm thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, quy nạp kinh tế và so sánh tương quan tỷ lệ phần trăm. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm phản ánh khách quan cấu trúc phân bổ vốn, đánh giá đúng mức độ thiếu hụt tài chính và lượng hóa mức độ thụ hưởng chính sách của doanh nghiệp tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô doanh nghiệp tại Gia Lai phát triển nhanh về lượng nhưng siêu nhỏ về chất. Đến năm 2008, khối doanh nghiệp dân doanh chiếm 98,2% tổng số cơ sở kinh doanh, trong đó doanh nghiệp tư nhân chiếm 54%, công ty TNHH chiếm 32%, công ty cổ phần chiếm 8%. Về lao động, 66,1% số doanh nghiệp có quy mô dưới 10 lao động, cao hơn mức trung bình khu vực Tây Nguyên (56,3%) và cả nước (61,2%). Về nguồn vốn, 70,4% doanh nghiệp có mức vốn từ 1 đến dưới 5 tỷ đồng, trong khi vốn bình quân của doanh nghiệp tư nhân chỉ đạt 3 tỷ đồng và công ty TNHH đạt 4 tỷ đồng.

Thứ hai, trình độ công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực rơi vào tình trạng lạc hậu nghiêm trọng. Kết quả khảo sát 215 doanh nghiệp cho thấy có tới 52% doanh nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu, 38% ở mức trung bình và chỉ 10% đạt trình độ tiên tiến. Có 76% máy móc thuộc thế hệ 1960–1970 và 75% thiết bị đã hết khấu hao. Về nhân lực, 59,3% lao động là phổ thông chưa qua đào tạo chuyên môn sâu, chỉ có 6,3% có trình độ đại học; đồng thời chỉ 17,7% chủ doanh nghiệp có bằng đại học, dẫn đến quản trị chủ yếu dựa vào kinh nghiệm gia đình.

Thứ ba, rào cản tiếp cận vốn là điểm nghẽn lớn nhất trong hoạt động kinh doanh. Có 70,4% doanh nghiệp xác nhận khó khăn tài chính là trở ngại hàng đầu kìm hãm tăng trưởng. Gần 100% doanh nghiệp không thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; 67,5% gặp khó khăn khi vay vốn ngân hàng thương mại do thiếu tài sản bảo đảm và 31,1% doanh nghiệp phải thường xuyên vay nóng trên thị trường tín dụng phi chính thức với lãi suất cao.

Thứ tư, sự mất cân đối sâu sắc về không gian kinh tế và mặt bằng sản xuất. Có tới 63,7% doanh nghiệp tập trung tại thành phố Pleiku, khu vực An Khê - Chư Sê chiếm 18,3%, trong khi 14 huyện thị còn lại chỉ chiếm 18%. Hơn 51,3% doanh nghiệp gặp khó khăn nghiêm trọng về đất đai và mặt bằng nhà xưởng, làm hạn chế mở rộng sản xuất.

Thảo luận kết quả

Trong luận văn, toàn bộ các phát hiện trên được hệ thống hóa trực quan thông qua các biểu đồ phân tích cơ cấu và bảng tổng hợp đối chiếu. Các biểu đồ cột mô tả tốc độ gia tăng doanh nghiệp từ 350 đơn vị lên 2.976 đơn vị, biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu trình độ công nghệ và bảng số liệu so sánh tương quan giữa quy mô vốn với khả năng tạo việc làm tại Gia Lai so với toàn vùng Tây Nguyên.

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng khó tiếp cận vốn xuất phát từ giá trị tài sản cố định bình quân của khối dân doanh rất thấp (doanh nghiệp tư nhân chỉ đạt 0,78 tỷ đồng/doanh nghiệp, công ty TNHH đạt 2,8 tỷ đồng/doanh nghiệp), hồ sơ sổ sách kế toán chưa minh bạch khiến các ngân hàng thương mại e ngại rủi ro nợ xấu. Bên cạnh đó, chính sách ưu đãi theo Nghị quyết 30/2009/NQ-CP đã giúp doanh nghiệp Gia Lai giảm 19,87 tỷ đồng thuế thu nhập doanh nghiệp và giãn hoãn 102,7 tỷ đồng tiền thuế, nhưng đây chỉ là giải pháp tình thế. So sánh với mô hình Quỹ tín dụng công nghiệp của Hàn Quốc hay chính sách tài trợ lãi suất của Malaysia, Gia Lai còn thiếu một định chế tài chính bảo lãnh chuyên biệt tại địa phương để hóa giải bài toán thế chấp cho doanh nghiệp nhỏ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách thuế nhằm tăng cường năng lực tự tích lũy vốn cho doanh nghiệp. Cục Thuế tỉnh Gia Lai phối hợp với Bộ Tài chính kiến nghị áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 20% cho nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong giai đoạn 2011–2015; thực hiện giãn thời hạn nộp thuế từ 6 đến 9 tháng khi thị trường có biến động tiêu cực; phấn đấu nâng mức tích lũy vốn nội bộ của khối DNNVV lên 20%–25% mỗi năm.

Thứ hai, thành lập và đưa vào vận hành Quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Gia Lai. Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai chủ trì trích ngân sách địa phương cấp vốn điều lệ ban đầu từ 30 đến 50 tỷ đồng trong giai đoạn 2011–2012, liên kết cùng các ngân hàng thương mại nhằm cung cấp bảo lãnh tín chấp cho tối thiểu 40%–50% các dự án sản xuất khả thi nhưng thiếu tài sản thế chấp.

Thứ ba, mở rộng quy mô tín dụng ưu đãi từ Chi nhánh Ngân hàng Phát triển (VDB Gia Lai) và các tổ chức tín dụng. VDB Gia Lai và hệ thống ngân hàng thương mại trên địa bàn dành tối thiểu 25%–30% tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn để hỗ trợ các DNNVV đầu tư đổi mới công nghệ chế biến nông sản (cà phê, cao su, tiêu); triển khai cơ chế hỗ trợ bù lãi suất 2%–3%/năm cho doanh nghiệp đổi mới thiết bị đạt chuẩn tiên tiến.

Thứ tư, quy hoạch mặt bằng sản xuất và nâng cấp hạ tầng các khu, cụm công nghiệp. Ban Quản lý Khu kinh tế và Sở Công Thương Gia Lai hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật cho 12 cụm, khu công nghiệp (như Khu công nghiệp Trà Đa 109,3 ha), áp dụng chính sách giảm 30%–50% tiền thuê đất trong 3 năm đầu cho DNNVV di dời cơ sở sản xuất vào cụm công nghiệp, giải quyết dứt điểm vướng mắc mặt bằng cho hơn 50% doanh nghiệp trong giai đoạn 2011–2015.

Thứ năm, thành lập Trung tâm trợ giúp phát triển DNNVV trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Gia Lai. Trung tâm chịu trách nhiệm sử dụng ngân sách đào tạo nghề và quản trị kinh doanh cho 500 lượt chủ doanh nghiệp và 2.000 lao động kỹ thuật mỗi năm đến năm 2015, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 40,7% lên mức 60%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh: Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên tại Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Cục Thuế và UBND tỉnh Gia Lai có thể sử dụng nghiên cứu này làm cơ sở dữ liệu thực tiễn để xây dựng Kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết 22/2010/NQ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV và ban hành các đề án phát triển công nghiệp địa phương.

Nhóm các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại: Ban giám đốc các chi nhánh NHTM và VDB Gia Lai có thể tham khảo bức tranh tài chính của 215 doanh nghiệp khảo sát để thiết kế các sản phẩm tín dụng đặc thù, quy trình thẩm định dòng tiền thay thế cho phương thức thẩm định dựa thuần túy vào tài sản thế chấp truyền thống.

Nhóm chủ doanh nghiệp và hiệp hội doanh nghiệp tại Gia Lai: Các nhà sáng lập, giám đốc DNNVV và Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Gia Lai có thể nắm bắt các chính sách ưu đãi thuế, quy trình hỗ trợ tài chính từ Nhà nước, từ đó định hình chiến lược tái cấu trúc nguồn vốn, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực quản trị.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế: Tài liệu cung cấp khung phân tích chuẩn mực về tài chính doanh nghiệp địa phương, phương pháp điều tra mẫu thực địa và nguồn số liệu phong phú giai đoạn 2005–2010 phục vụ các đề tài nghiên cứu về kinh tế vùng Tây Nguyên.

Câu hỏi thường gặp

Những trở ngại tài chính lớn nhất mà doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Gia Lai gặp phải là gì? Khảo sát 215 doanh nghiệp cho thấy 70,4% doanh nghiệp coi tài chính là rào cản lớn nhất. Gần 100% doanh nghiệp không tiếp cận được vốn tín dụng nhà nước và 67,5% khó tiếp cận vốn ngân hàng thương mại do thiếu tài sản thế chấp, khi giá trị tài sản cố định bình quân chỉ đạt 0,78 đến 2,8 tỷ đồng mỗi cơ sở.

Chính sách tài chính đã hỗ trợ doanh nghiệp Gia Lai vượt qua khó khăn trong giai đoạn 2008–2009 như thế nào? Thực hiện chính sách kích cầu và giảm giãn thuế của Chính phủ, Cục Thuế tỉnh Gia Lai đã thực hiện giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp với tổng số tiền 19,87 tỷ đồng và cho phép giãn nộp thuế 9 tháng với giá trị 102,7 tỷ đồng, giúp doanh nghiệp duy trì nguồn vốn lưu động sản xuất.

Thực trạng công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Gia Lai lạc hậu ra sao? Có tới 52% doanh nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu, 76% máy móc nhập khẩu thuộc thế hệ 1960–1970, 75% thiết bị đã hết khấu hao và 50% là thiết bị tự lắp ráp hoặc tân trang lại. Chỉ có 10% doanh nghiệp sở hữu dây chuyền thiết bị hiện đại, làm giảm đáng kể sức cạnh tranh của nông sản chế biến.

Luận văn đề xuất giải pháp trọng tâm nào để khơi thông dòng vốn tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp? Luận văn đề xuất UBND tỉnh Gia Lai sớm thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng với số vốn điều lệ ban đầu từ 30 đến 50 tỷ đồng từ nguồn ngân sách. Quỹ hoạt động như một bên thứ ba bảo lãnh tín chấp cho các doanh nghiệp có dự án khả thi nhưng thiếu tài sản bảo đảm.

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp như thế nào vào giải quyết việc làm tại tỉnh Gia Lai? Khối DNNVV tạo việc làm cho 52% lực lượng lao động phi nông nghiệp và chiếm 13% tổng lực lượng lao động toàn xã hội trên địa bàn tỉnh (trong tổng số 624.000 người trong độ tuổi lao động năm 2009), đóng vai trò thiết yếu giúp giảm áp lực việc làm tại khu vực nông thôn và đô thị.

Kết luận

Năm đóng góp và kết luận chính từ công trình nghiên cứu:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về cơ chế, chính sách và công cụ tài chính của Nhà nước trong việc hỗ trợ phát triển khu vực DNNVV tại địa bàn miền núi, vùng sâu vùng xa.
  • Phân tích chi tiết thực trạng 2.421 doanh nghiệp tại Gia Lai giai đoạn 2005–2010, chỉ rõ tốc độ tăng trưởng nhanh 28,6%/năm nhưng chịu sự mất cân đối lớn về địa bàn (63,7% tập trung ở Pleiku) và quy mô vốn mỏng (70,4% từ 1 đến 5 tỷ đồng).
  • Chỉ ra 3 điểm nghẽn nghiêm trọng thông qua khảo sát thực nghiệm 215 doanh nghiệp: 70,4% vướng mắc vốn vay, 52% công nghệ lạc hậu và 59,3% lao động phổ thông chưa qua đào tạo.
  • Đánh giá hiệu quả thực thi chính sách tài khóa tại địa phương, lượng hóa tác động của chính sách miễn giảm 19,87 tỷ đồng thuế thu nhập doanh nghiệp giúp tạo nguồn lực tự tích lũy cho doanh nghiệp.
  • Xây dựng hệ thống 5 nhóm giải pháp tài chính đồng bộ giai đoạn 2011–2015: ưu đãi thuế suất 20%, thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng vốn 30–50 tỷ đồng, cấp bù lãi suất 2%–3%, hỗ trợ mặt bằng tại 12 cụm công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực.

Lộ trình triển khai trọng tâm trong giai đoạn 2011–2015 cần ưu tiên hoàn thiện Đề án thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng trong năm 2011–2012 và đẩy mạnh đầu tư hạ tầng các cụm công nghiệp đến năm 2015. Các cơ quan quản lý, tổ chức tài chính và cộng đồng doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ để hiện thực hóa các giải pháp tài chính này, đưa khối DNNVV Gia Lai phát triển bền vững và đóng góp tích cực vào mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà.