Tổng quan nghiên cứu

Trong cấu trúc thị trường tài chính hiện đại, hoạt động cho thuê tài chính giữ vai trò là kênh cung ứng vốn trung và dài hạn thiết yếu, giúp giảm tải áp lực tín dụng trực tiếp lên hệ thống ngân hàng thương mại. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm hơn 95% tổng số doanh nghiệp nhưng thường gặp rào cản lớn về tài sản thế chấp khi tiếp cận vốn ngân hàng. Dù vậy, theo ước tính của ngành tài chính giai đoạn 2009-2012, dư nợ cho thuê tài chính chỉ chiếm chưa đầy 2% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế, phản ánh quy mô thị trường còn rất khiêm tốn so với tiềm năng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng hoạt động của các công ty cho thuê tài chính trực thuộc ngân hàng thương mại Việt Nam đang gặp nhiều trở ngại lớn. Bên cạnh một số đơn vị tăng trưởng ổn định, nhiều công ty rơi vào tình trạng kinh doanh thua lỗ, tỷ lệ nợ xấu tăng cao và cá biệt có đơn vị mất khả năng thanh toán nghiêm trọng, làm ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của ngân hàng mẹ và an toàn hệ thống tín dụng.

Mục tiêu của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghiệp vụ cho thuê tài chính, phân tích thực trạng hoạt động của 7 công ty cho thuê tài chính trực thuộc ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2009-2012, chỉ rõ những thành tựu cùng các hạn chế cốt lõi. Từ đó, tác giả xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện và khả thi nhằm phát triển bền vững hoạt động này đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào toàn bộ 7 công ty cho thuê tài chính trực thuộc ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong khung thời gian từ năm 2009 đến năm 2012. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp các căn cứ thực tiễn giúp tái cấu trúc nguồn vốn, tối ưu hóa năng lực thẩm định tài sản và thiết lập mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 3%, góp phần khơi thông dòng vốn tài trợ máy móc thiết bị phục vụ công cuộc hiện đại hóa đất nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp của Lý thuyết Trung gian Tài chính (Financial Intermediation Theory) và Lý thuyết Chi phí Đại diện gắn liền với Bất cân xứng Thông tin (Agency Theory and Asymmetric Information). Trong nền kinh tế thị trường, công ty cho thuê tài chính vận hành như một định chế tài chính phi ngân hàng, thực hiện chức năng chuyển hóa kỳ hạn và phân tán rủi ro thông qua việc tài trợ trực tiếp bằng hiện vật là tài sản thay vì giải ngân bằng tiền tệ.

Hoạt động cho thuê tài chính được nhận diện qua các khái niệm then chốt:

  • Cho thuê tài chính thuần (Net Finance Lease): Giao dịch tín dụng trung và dài hạn có sự tham gia của ba bên gồm Bên cho thuê, Bên thuê và Nhà cung ứng; bên cho thuê thanh toán 100% giá trị tài sản và nắm quyền sở hữu pháp lý suốt kỳ hạn.
  • Mua và cho thuê lại (Buy and Leaseback): Phương thức doanh nghiệp bán tài sản cố định hiện hữu cho công ty cho thuê rồi thuê lại chính tài sản đó để tái cấu trúc dòng vốn lưu động mà không làm gián đoạn sản xuất.
  • Cho thuê hợp tác (Leveraged Lease): Hình thức bên cho thuê chỉ tài trợ khoảng 20% đến 30% giá trị tài sản, phần còn lại huy động từ các nhà cho vay thương mại có bảo đảm bằng quyền thu hồi tiền thuê.
  • Cho thuê trả góp (Lease Purchase): Sự kết hợp giữa mua bán trả chậm và tín dụng thuê mua tài sản.

Theo quy chuẩn pháp lý, một hợp đồng được xác định là cho thuê tài chính khi thỏa mãn tối thiểu một trong các điều kiện: chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền ưu tiên mua lại với giá danh nghĩa sau khi kết thúc hợp đồng; thời hạn thuê chiếm ít nhất 60% thời gian khấu hao hữu ích của tài sản; hoặc tổng số tiền thuê quy định trong hợp đồng tối thiểu bằng giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm ký kết.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ (census sampling) với cỡ mẫu gồm toàn bộ 7 công ty cho thuê tài chính trực thuộc ngân hàng thương mại Việt Nam đang hoạt động trong giai đoạn khảo sát. Quy mô mẫu này bao quát hơn 58% tổng số 12 công ty cho thuê tài chính trên toàn thị trường Việt Nam tính đến năm 2012, đảm bảo tính đại diện tuyệt đối cho phân khúc công ty con trực thuộc các ngân hàng thương mại.

Dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thức từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, báo cáo tài chính đã kiểm toán, báo cáo thường niên của các ngân hàng mẹ và các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định 16/2001/NĐ-CP, Nghị định 95/2008/NĐ-CP và Luật các Tổ chức tín dụng 2010.

Phương pháp phân tích chủ đạo là nghiên cứu định tính kết hợp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian (time-series comparison) và phân tích cơ cấu tỷ trọng tài chính (ratio analysis). Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì dữ liệu thị trường cho thuê tài chính giai đoạn 2009-2012 có sự biến động đột biến do quá trình sáp nhập và tái cơ cấu; phân tích so sánh định tính và tỷ trọng giúp nhận diện chính xác bản chất rủi ro vận hành, rủi ro đạo đức và rủi ro thanh khoản mà không bị sai lệch bởi các nhiễu số liệu phi tuyến tính.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực nghiệm 7 công ty cho thuê tài chính trực thuộc ngân hàng thương mại giai đoạn 2009-2012 đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

  • Thứ nhất, quy mô vốn điều lệ phân hóa sâu sắc và mạng lưới hoạt động bị thu hẹp. Đến năm 2012, Vietinbank Leasing dẫn đầu toàn hệ thống với mức vốn điều lệ 800 tỷ đồng, theo sau là VCBL đạt 500 tỷ đồng (đạt chuẩn vốn pháp định 500 tỷ đồng để thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán và cho vay bổ sung vốn lưu động theo Nghị định 95/2008/NĐ-CP). Các đơn vị còn lại như BLC (447,8 tỷ đồng), ALCII (350 tỷ đồng), SBL (300 tỷ đồng), ALCI (200 tỷ đồng) và ACB Leasing (200 tỷ đồng) chỉ duy trì ở mức vừa đủ chuẩn. Mạng lưới chi nhánh của các công ty gần như đóng băng ở mức 1 đến 2 chi nhánh, riêng ALCII do kinh doanh thua lỗ phải thu hẹp từ 6 chi nhánh năm 2009 xuống còn 3 chi nhánh vào năm 2012.

  • Thứ hai, cơ cấu nguồn vốn mất cân đối và phụ thuộc nặng nề vào ngân hàng mẹ. Tổng nguồn vốn huy động của 7 công ty năm 2009 đạt 18.515 tỷ đồng nhưng có xu hướng giảm sút trong các năm tiếp theo. Ngoại trừ ALCII từng huy động vốn từ bên ngoài chiếm tới 61% toàn hệ thống vào năm 2009, 6 công ty còn lại có cơ cấu nguồn vốn huy động phụ thuộc trên 70% vào vốn cấp và vốn vay từ ngân hàng thương mại chủ quản.

  • Thứ ba, cơ cấu tài sản cho thuê thiếu tính đa dạng. Dư nợ cho thuê tập trung quá mức vào phương tiện vận tải đường bộ và máy móc thi công xây dựng (chiếm trên 65% tổng dư nợ), trong khi các danh mục có hàm lượng công nghệ cao như thiết bị y tế, thiết bị viễn thông và dây chuyền sản xuất công nghiệp chuyên dụng chiếm tỷ trọng dưới 15%.

  • Thứ tư, chất lượng tín dụng suy giảm và tỷ lệ nợ xấu tăng cao. Giai đoạn 2009-2012 ghi nhận sự gia tăng nợ xấu đột biến tại các đơn vị có quy trình kiểm soát lỏng lẻo. Tình trạng nợ quá hạn kéo dài kết hợp với sự chậm trễ trong khâu xử lý, thu hồi và phát mãi tài sản đã làm suy kiệt dòng tiền hoạt động của nhiều đơn vị.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phụ thuộc nguồn vốn bắt nguồn từ việc Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 chính thức cấm các công ty cho thuê tài chính huy động tiền gửi từ cá nhân kể từ ngày 01/11/2011. Quy định này triệt tiêu một kênh vốn quan trọng, đẩy các công ty vào thế bị động và hoàn toàn phụ thuộc vào hạn mức tín dụng từ ngân hàng mẹ.

Để làm rõ bức tranh tài chính, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột chồng (stacked bar chart) minh họa cơ cấu nguồn vốn (vốn chủ sở hữu, vốn vay ngân hàng mẹ và vốn huy động từ tổ chức khác) kết hợp với biểu đồ đường (line chart) phản ánh xu hướng suy giảm của tổng nguồn vốn và diễn biến nợ xấu qua từng năm. Ngoài ra, bảng ma trận phân loại tài sản cho thuê giúp làm nổi bật sự mất cân đối khi tỷ trọng phương tiện vận tải áp đảo hoàn toàn so với thiết bị công nghệ cao.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, sự phát triển của Việt Nam còn khoảng cách rất lớn. Tại Hàn Quốc, kể từ khi ban hành đạo luật cho thuê tài chính năm 1972, đến năm 1993 nước này đã phát triển 34 công ty chuyên nghiệp (trong đó có 6 công ty trực thuộc ngân hàng thương mại) và đến năm 1994 đã tài trợ khối lượng máy móc đạt 44 tỷ USD, trở thành thị trường cho thuê tài chính lớn thứ 5 thế giới. Thành công của Hàn Quốc nằm ở hành lang pháp lý độc lập, sự hỗ trợ thuế vượt trội và năng lực tự chủ vốn hoàn toàn, những yếu tố mà các công ty trực thuộc ngân hàng tại Việt Nam vẫn còn thiếu hụt trong giai đoạn nghiên cứu.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, hệ thống giải pháp phát triển hoạt động cho thuê tài chính của các công ty trực thuộc ngân hàng thương mại được đề xuất theo 4 nhóm định hướng cụ thể:

  • Nâng cao năng lực tài chính và tái cấu trúc nguồn vốn: Các ngân hàng thương mại chủ quản cần tiếp tục bổ sung vốn điều lệ cho các công ty con đạt mức tối thiểu 1.000 tỷ đồng đối với các đơn vị trụ cột và tối thiểu 500 tỷ đồng đối với các đơn vị còn lại trước năm 2018. Song song đó, các công ty cần chủ động đa dạng hóa nguồn vốn thông qua phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp kỳ hạn trên 1 năm, phấn đấu giảm tỷ trọng phụ thuộc vốn vay từ ngân hàng mẹ xuống dưới mức 50% trong tổng nguồn vốn hoạt động vào năm 2020. Chủ thể thực hiện: Ban Lãnh đạo Ngân hàng mẹ và Hội đồng thành viên Công ty cho thuê tài chính.

  • Đa dạng hóa danh mục tài sản và sản phẩm dịch vụ: Chuyển dịch cơ cấu danh mục tài trợ bằng cách giảm tỷ trọng xe vận tải thương mại thuần túy xuống dưới 50%, đồng thời nâng tỷ trọng máy móc chế biến xuất khẩu, thiết bị y tế kỹ thuật cao và thiết bị in ấn, đóng gói lên 40% tổng dư nợ trước năm 2020. Đẩy mạnh triển khai các nghiệp vụ giá trị gia tăng như Mua và cho thuê lại (Buy and Leaseback), Cho thuê vận hành (Operating Lease) và dịch vụ bao thanh toán. Chủ thể thực hiện: Phòng Nghiệp vụ và Phòng Phát triển Sản phẩm.

  • Hiện đại hóa quy trình thẩm định và kiểm soát rủi ro: Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ chuyên biệt cho nghiệp vụ cho thuê tài sản, gắn trách nhiệm thẩm định giá độc lập với quy trình phê duyệt 6 bước. Tổ chức đào tạo lại 100% đội ngũ cán bộ tín dụng về kỹ năng đánh giá khấu hao công nghệ và pháp lý thu hồi nợ trước năm 2016, đặt mục tiêu khống chế tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống dưới mức 3%. Chủ thể thực hiện: Khối Quản trị Rủi ro và Phòng Nhân sự.

  • Hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế phối hợp ngành: Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tư pháp cần sớm ban hành Thông tư hướng dẫn mới nhằm rút ngắn thời gian xử lý thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm đối với động sản xuống dưới 24 giờ làm việc; thiết lập cơ chế công nhận quyền sở hữu tuyệt đối của bên cho thuê khi bên thuê phá sản để tài sản không bị kê biên, đồng thời phát huy vai trò cung cấp thông tin của Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam. Chủ thể thực hiện: Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp và Hiệp hội Cho thuê tài chính.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban Lãnh đạo và Chuyên viên Chiến lược tại các Ngân hàng Thương mại và Công ty Cho thuê Tài chính: Cung cấp cơ sở lý luận và dữ liệu thực chứng để xây dựng đề án tái cấu trúc mô hình công ty con, hoạch định chiến lược đa dạng hóa sản phẩm thuê mua và thiết lập hạn mức tín dụng nội bộ an toàn.

  • Cơ quan Quản lý Nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp): Sử dụng các phân tích pháp lý và kiến nghị từ thực tiễn để hoàn thiện khung khổ pháp lý, ban hành các thông tư hướng dẫn về phân loại nợ, trích lập dự phòng và cơ chế xử lý nhanh tài sản bảo đảm trong giao dịch tài chính phi ngân hàng.

  • Giám đốc Tài chính (CFO) và Nhà Quản trị Doanh nghiệp SMEs: Giúp nhận diện giải pháp tài trợ vốn trung - dài hạn tối ưu thông qua hình thức thuê tài chính và Mua và cho thuê lại nhằm đổi mới dây chuyền công nghệ hiện đại mà không phải chịu áp lực về tài sản thế chấp bất động sản.

  • Giảng viên, Học viên Cao học và Nhà Nghiên cứu khối ngành Kinh tế - Tài chính: Tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về kinh tế học cho thuê tài chính, phương pháp nghiên cứu khảo sát toàn bộ mẫu doanh nghiệp và bài học kinh nghiệm xử lý khủng hoảng tín dụng trung hạn tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Nghiệp vụ cho thuê tài chính khác biệt như thế nào so với vay vốn tín dụng truyền thống tại ngân hàng? Trong cho thuê tài chính, công ty cho thuê trực tiếp mua máy móc, thiết bị và nắm giữ quyền sở hữu pháp lý suốt thời hạn hợp đồng, tài trợ tới 100% giá trị tài sản mà không đòi hỏi tài sản thế chấp bổ sung. Doanh nghiệp đi thuê được áp dụng phương pháp khấu hao nhanh để tối ưu hóa thuế. Ngược lại, vay ngân hàng truyền thống thường giải ngân bằng tiền và bắt buộc phải có tài sản bảo đảm độc lập.

Quy định cấm huy động vốn cá nhân theo Luật các Tổ chức tín dụng 2010 đã tác động ra sao đến các công ty cho thuê tài chính? Kể từ ngày 01/11/2011, các công ty cho thuê tài chính không còn được nhận tiền gửi từ cá nhân. Điều này khiến tổng nguồn vốn huy động của 7 công ty sụt giảm đáng kể so với mức đỉnh 18.515 tỷ đồng năm 2009. Hậu quả là các công ty buộc phải chuyển hướng phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn vốn vay từ ngân hàng mẹ hoặc phát hành giấy tờ có giá kỳ hạn trên 1 năm cho các tổ chức kinh tế.

Phương thức Mua và cho thuê lại (Buy and Leaseback) mang lại lợi ích cụ thể gì cho doanh nghiệp? Phương thức Mua và cho thuê lại cho phép doanh nghiệp bán tài sản cố định hiện có cho công ty cho thuê để thu ngay 100% giá trị tiền mặt bổ sung vào vốn lưu động. Doanh nghiệp vẫn duy trì quyền sử dụng máy móc liên tục phục vụ sản xuất, chi phí trả tiền thuê định kỳ được hạch toán vào chi phí hợp lý giúp cân đối dòng tiền và nâng cao hiệu quả sinh lời trên tổng tài sản.

Đâu là nguyên nhân chính khiến nợ xấu tại một số công ty cho thuê tài chính trực thuộc ngân hàng tăng cao giai đoạn 2009-2012? Nguyên nhân chủ yếu do suy thoái kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến các doanh nghiệp vận tải và xây dựng gặp khó khăn dòng tiền. Bên cạnh đó, hạn chế về năng lực thẩm định dự án, sự buông lỏng kiểm soát nội bộ và các sai phạm về đạo đức kinh doanh tại một số đơn vị như ALCII đã dẫn đến các khoản tài trợ sai mục đích và làm phát sinh nợ xấu khó thu hồi.

Một giao dịch thuê tài sản cần đáp ứng điều kiện pháp lý nào để được công nhận là hợp đồng cho thuê tài chính? Theo quy định pháp luật Việt Nam, hợp đồng phải thỏa mãn ít nhất một trong các tiêu chí: chuyển quyền sở hữu hoặc trao quyền ưu tiên mua lại tài sản khi hết hạn; thời hạn cho thuê tối thiểu bằng 60% thời gian khấu hao của tài sản; hoặc tổng số tiền thuê quy định trong hợp đồng ít nhất bằng với giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm hai bên ký kết hợp đồng.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về nghiệp vụ cho thuê tài chính, chỉ rõ vai trò trung gian tài chính độc lập và tổng kết bài học thực tiễn phát triển thị trường từ các quốc gia tiên tiến như Hoa Kỳ và Hàn Quốc.
  • Đánh giá thực trạng hoạt động của 7 công ty cho thuê tài chính trực thuộc ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2009-2012 thông qua hệ thống số liệu cụ thể về vốn điều lệ, vốn huy động và chất lượng tài sản.
  • Nhận diện các điểm nghẽn cốt lõi: cơ cấu vốn phụ thuộc trên 70% vào ngân hàng mẹ, danh mục tài sản tập trung quá mức vào phương tiện vận tải và tỷ lệ nợ xấu tăng cao do cơ chế kiểm soát rủi ro chưa đồng bộ.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược về tăng vốn điều lệ lên mức tối thiểu 1.000 tỷ đồng, đa dạng hóa danh mục tài sản công nghệ cao, nâng cao năng lực thẩm định và hoàn thiện cơ chế pháp lý xử lý tài sản đảm bảo.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn của cho thuê tài chính như một kênh dẫn vốn trung và dài hạn mang tính sống còn đối với sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là xây dựng khung giải pháp tái cấu trúc đồng bộ, định hình lộ trình phát triển hoạt động cho thuê tài chính cho giai đoạn 2015-2020. Các nhà quản trị ngân hàng, chuyên gia tài chính và các nhà hoạch định chính sách quan tâm có thể liên hệ với tác giả và cơ sở đào tạo để tiếp cận toàn văn công trình nghiên cứu, ứng dụng các mô hình thẩm định và chiến lược phát triển dịch vụ tài chính hiện đại vào thực tiễn quản trị.