lời mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu sơ đồ, luận văn đƣợc kết cầu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng thƣơng mai. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại VietinBank Chi nhánh KCN Quế Võ. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tại VietinBank Chi nhánh KCN Quế Võ. 14 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Cho vay tiêu dùng của ngân hàng thƣơng mại CVTD là một hoạt động tất yếu hình thành do yêu cầu của nền kinh tế thị trƣờng nhằm giải quyết các vấn đề: ngƣời tiêu dùng có nhu cầu tiều dùng vƣợt quá khả năng thanh toán hiện tại, ngƣời bán mong muốn tiêu thụ đƣợc hàng hoá. Nhƣ vậy, cần đến một tổ chức thứ ba thực hiện việc cho vay đối với ngƣời mua, hoặc hỗ trợ cho ngƣời bán. Sẽ không có một tổ chức nào đảm nhiệm đƣợc vị trí này phù hợp bằng các tổ chức trung gian tài chính, mà quan trọng nhất là các NHTM. Đó là lý do chính hình thành nên nghiệp vụ CVTD.
Chiến lƣợc CVTD sẽ tiếp tục đóng một vai trò chủ đạo trong các dịch vụ ngân hàng cũng nhƣ trong quản lý ngân hàng. Xu hƣớng này diễn ra không chỉ vì CVTD là một trong những khoản mục mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng, mà còn vì ngƣời tiêu dùng với trình độ dân trí ngày càng cao sẽ vay nhiều hơn để nâng cao mức sống bản thân và đáp ứng các kế hoạch chi tiêu trên cơ sở triển vọng về thu nhập trong tƣơng lai. CVTD sẽ hƣớng đến sự thuận tiện, ngân hàng sẽ tạo điều kiện cho cá nhân, hộ gia đình nhận đƣợc khoản vay sớm hơn trong khi vẫn duy trì đƣợc sự kiểm soát đối với món vay tiêu dùng để tránh những giảm sút đáng kể về chất lƣợng tín dụng. Khái niệm cho vay tiêu dùng - Cho vay của NHTM: là việc chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ NHTM (ngƣời sở hữu) sang khách hàng vay (ngƣời sử dụng) sau một thời gian nhất định quay trở lại NHTM với lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu.
Hay có thể hiểu cho vay của NHTM là quan hệ giữa một bên là ngƣời cho vay (NHTM) bằng cách chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên ngƣời vay (khách hàng vay) để sử dụng trong một thời gian nhất định với cam kết của ngƣời vay là hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn. - CVTD: là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng (ngƣời cho vay) và các cá nhân, ngƣời tiêu dùng (ngƣời đi vay) nhằm tài trợ cho các phƣơng án phục vụ đời sống, 15 tiêu dùng các sản phẩm hàng hoá dịch vụ khi ngƣời tiêu dùng chƣa có khả năng thanh tóan, trên nguyên tắc ngƣời tiêu dùng sẽ hoàn trả cả gốc lẫn lãi tại một thời điểm xác định trong tƣơng lai. Nếu nhƣ cho vay sản xuất kinh doanh là một hình thức tín dụng mà các NHTM cấp cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và cá nhân nhằm tài trợ cho các dự án đầu tƣ, phƣơng án sản xuất kinh doanh thì CVTD lại là một sản phẩm tín dụng nhằm tài trợ cho những nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình. Nhƣ vậy, khác với các khoản cho vay sản xuất kinh doanh - các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế sử dụng vốn vay để tài trợ cho vốn lƣu động, xây dựng nhà xƣởng, mua sắm trang thiết bị., các khoản CVTD giúp ngƣời tiêu dùng có thể sử dụng hàng hoá dịch vụ trƣớc khi họ có khả năng chi trả, tạo cho họ có thể hƣớng tới một cuộc sống cao hơn nhƣ mua xe, các dụng cụ dân dụng, chi phí du lịch, khám chữa bệnh.
Đặc điểm cho vay tiêu dùng CVTD có những đặc điểm sau. Cụ thể: - Từng khoản vay thƣờng nhỏ, dẫn đến chi phí cho vay cao, nên lãi suất CVTD thƣờng cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay khác trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Vì vậy độ rủi ro cũng cao hơn các loại cho vay khác. - Nhu cầu về vay tiêu dùng của khách hàng thƣờng phụ thuộc nhiều vào chu kỳ của kinh tế nên ít co dãn với lãi suất mà thông thƣờng ngƣời đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu.
- Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai biến số có quan hệ rất mật thiết tới nhu cầu vềvay tiêu dùng của khách hàng. - Nguồn trả nợ chủ yếu của ngƣời đi vay có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của những ngƣời này. - Độ chính xác từ các thông tin tài chính từ phía khách hàng vay thƣờng không cao. - Tƣ cách của khách hàng vay là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay.
Ý nghĩa của cho vay tiêu dùng ● Đối với người tiêu dùng. CVTD là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của ngƣời tiêu dùng. Do vậy, khách hàng của CVTD cũng chính là ngƣời tiêu dùng, đặc biệt là những ngƣời có thu nhập trung bình khá. Nhờ những khoản CVTD, họ có thể mua sắm những hàng hoá cần thiết có giá trị cao, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và cải thiện cuộc sống ngay cả khi khả năng tài chính hiện tại của họ chƣa cho phép.
Trên thực tế, có thể thấy rằng nhiều nhu cầu mang tính tự nhiên , vô cùng thiết yếu, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong cuộc sống đối với mỗi cá nhân và hộ gia đình. Những nhu cầu này không sớm thi muô ngƣời tiêu dùng cũng phải thoả mãn, ví dụ nhƣ nhu cầu về mua sắm, sửa chữa nhà cửa, mua các đồ dùng tiện nghi sinh hoạt, mua sắm các phƣơng tiện nhƣ xe máy, ô tô, du lịch,. Ngoài ra, là các nhu cầu mà con ngƣời thoả mãn càng sớm càng tốt. Chẳng hạn, nhu cầu về học hành của họ hay con cái họ, các nhu cầu phát sinh khi chuẩn bị một công việc làm ăn mới.
Tuy rằng, đó là những nhu cầu thâ sƣ thiết yếu nhƣng của cải thì đƣợc tích luỹ theo thời gian, do vậy mà khả năng tài chính thƣờng bị giới hạn. Vì vậy, mà làm nảy sinh sự thật là ngƣời ta thƣờng mua sắm nhà cửa , tiện nghi sinh hoạt khi đã lớn tuổi, khi đã tích lũy đầy đủ tiền. Khi đó lợi ích cảm nhận đƣợc từ sự hƣởng thụ có xu hƣớng giảm xuống. Do vậy, ngƣời tiêu dùng sẽ tìm cách để phối hợp khéo léo giữa việc thoả mãn các nhu cầu với yếu tố về thời gian và khả năng thanh toán của hiện tại và tƣơng lai.
Điều này có nghĩa là ngƣời tiêu dùng sẽ tìm cách để hƣởng thụ trƣớc số tiền trong tƣơng lai. Nếu phân tích theo khía cạnh tài chính, việc tiêu dùng trƣớc bằng cách vay mƣợn tiền của ngân hàng sẽ phải trả lãi, thực chất đó cũng chỉ là cách quy đổi luồng tiền sẽ có tại một thời điểm nào đó trong tƣơng lai về thời điểm hiện tại. Chính những nguyên nhân trên, việc ngân hàng thực hiện và mở rộng hoạt động CVTD sẽ đem đến cho ngƣời tiêu dùng những lợi ích thiết thƣc nhất. Có thể 17 khẳng định rằng ngƣời tiêu dùng là những ngƣời đƣợc hƣởng trực tiếp và đồng nhất những lợi ích do hình thức CVTD mang lại.
● Đối với nhà sản xuất. Lợi ích đối với nhà sản xuất, kinh doanh là gia tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm, vốn đƣợc thu hồi và quay vòng nhanh, từ đó đem lại lợi nhuận, mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trƣờng. Khi đó nhà sản xuất thuê thêm công nhân, tăng thu nhập cho ngƣời lao động. Vậy là CVTD lại gián tiếp đem lại lợi ích cho xã hội.
Nhƣng đồng thời, CVTD tạo ra sự cạnh tranh cao hơn giữa các nhà sản xuất, các nhà kinh doanh cả về số lƣợng, mẫu mã, chủng loại sản phẩm. Một mặt, thúc đẩy sản xuất phát triển, một mặt ngƣời tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn, qua đó tạo sự năng động cho nền kinh tế. ● Đối với ngân hàng thương mại. - Tạo điều kiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nhờ vậy góp phần nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro.
Hoạt động chủ yếu của NHTM là nhận tiền gửi, cung cấp dịch vụ thanh toán và cho vay. Các NHTM song song với nỗ lực huy động vốn là khai thác tối đa thị trƣờng tín dụng, nghĩa là đáp ứng tốt nhất nhu cầu tín dụng của nền kinh tế. Hoạt động CVTD của ngân hàng đối với các cá nhân có quy mô nhỏ nhƣng số lƣợng khách hàng tiềm năng và sự đa dạng của nhu cầu lại vô cùng to lớn. Nhu cầu tiêu dùng của khách hàng gần nhƣ là vô tận, đó là nền tảng vững chắc của ngân hàng khi tiến hành CVTD.
Thực tế đã chứng minh rằng, có những NHTM lớn trên thế giới đã thu về nhiều khoản lợi nhuận kếch xù từ việc cung cấp các khoản CVTD. Ngoài ra, nếu xét riêng từng khoản thì CVTD sẽ phải đối mặt với những rủi ro lớn. Nhƣng, vì mỗi khoản CVTD có giá trị tƣơng đối nhỏ, đặc biệt lại có nhiều sản phẩm CVTD nên xét trên toàn bộ các khoản cho vay thì rủi ro cũng không còn phải là một vấn đề lớn. Trên thực tế, các khoản CVTD thƣờng có lợi nhuận cao hơn do mức lãi suất cao.
Vì vậy, các NHTM cũng có thể kỳ vọng tăng lợi nhuận thu đƣợc từ các khoản CVTD. 18 - Giúp mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó sẽ làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi cho ngân hàng. Hoạt động này giúp ngân hàng mở rộng sƣ quan hệ với khách hàng, từ đó có những thuận lợi trong hoạt động huy động vốn, đặc biệt là huy động vốn từ dân cƣ. Hơn nữa, tính lan truyền trong dân cƣ là rất cao nên các ngân hàng có thể thông qua các khoản CVTD mà quảng cáo về mình, từ đó thu hút các khách hàng đến với các dịch vụ khác nữa của ngân hàng.
Trong khi đó các khoản CVTD tuy là những khoản cho vay nhỏ nhƣng nhu cầu về chúng lại vô cùng lớn nên nếu khai thác đƣợc thị trƣờng này thì các NHTM có thể sử dụng đƣợc một số lƣợng vốn vô cùng lớn. Hơn nữa, nguồn dân cƣ cũng chính là nguồn khách hàng tiềm năng lớn, ngân hàng muốn phát triển bền vững thì nên dựa vào đối tƣợng khách hàng này.