lời mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn Thƣơng Tín. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn Thƣơng Tín. Những điểm mới của luận văn.
Đề tài liên quan đến quản trị rủi ro thanh khoản đã có nhiều nghiên cứu đƣợc thực hiện tại các NHTM Việt Nam. Nhìn chung các luận văn này đều đánh giá tình hình và cách thức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 quản trị rủi ro thanh khoản tiếp cận theo chỉ số thanh khoản, sau đó đề xuất các giải pháp quản trị rủi ro thanh khoản áp dụng cho ngân hàng đƣợc nghiên cứu và hệ thống các NHTM. Từ việc nghiên cứu thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn Thƣơng Tín giai đoạn 2008 – 2012 đến việc phân tích các chỉ tiêu an toàn thanh khoản, luận văn đã đƣa ra một số khuyến nghị cho vấn đề thanh khoản có thể ứng dụng cho các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam. Qua đó rút ra đƣợc ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế vững mạnh.
Sự sụp đổ của một ngân hàng không những có thể kéo theo sự sụp đổ của cả hệ thống ngân hàng, mà còn có thể khiến cho các tổ chức kinh doanh khác trong nền kinh tế đi đến bờ vực phá sản. Vì vậy, quản trị rủi ro ngân hàng nói chung và quản trị rủi ro thanh khoản nói riêng cần phải đƣợc quan tâm hợp lý và đúng mức hơn nữa, để hƣớng tới mục đích đảm bảo sự an toàn và phát triển cho nền kinh tế Việt Nam. Bên cạnh việc kế thừa cách tiếp cận chỉ số thanh khoản của các đề tài trƣớc đó, luận văn “Giải pháp nâng cao hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn Thƣơng Tín” còn thể hiện phƣơng pháp kiểm tra sức chịu đựng mà ngân hàng đang áp dụng. Ngoài ra, luận văn còn đƣa ra đƣợc những giải pháp phù hợp với tình hình ngân hàng dựa trên ý kiến khảo sát của các chuyên gia hoạt động trong cùng lĩnh vực.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thƣơng mại.1 Những vấn đề cơ bản về thanh khoản tại ngân hàng thƣơng mại.1 Khái niệm thanh khoản. Thanh khoản là thuật ngữ tài chính nhằm để chỉ khả năng chuyển đổi một tài sản thành tiền nhanh nhất mà thiệt hại về giá trị không đáng kể. Trong lĩnh vực ngân hàng, thanh khoản là thuật ngữ chỉ khả năng thanh toán của ngân hàng cũng nhƣ khả năng đáp ứng các nhu cầu nhƣ rút tiền, thanh toán, vay mới. Thanh khoản của ngân hàng tốt khi đáp ứng đƣợc các yêu cầu này và dễ dàng huy động vốn với một mức lãi suất hợp lý.
Theo định nghĩa của Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng: “Thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng để tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức”. Nhƣ vậy thanh khoản của một ngân hàng liên quan đến tiền mặt và các dòng lƣu chuyển tiền tệ để thực hiện các nghĩa vụ thanh toán tại một thời điểm. Cụ thể hơn, thanh khoản có thể đƣợc định nghĩa là khả năng đáp ứng tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn, các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm. Một nguồn vốn đƣợc coi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh.
Một tài sản đƣợc gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh.2 Cung cầu thanh khoản. Yêu cầu thanh khoản của một ngân hàng có thể đƣợc xem xét qua mô hình cung cầu về thanh khoản. Trong đó, cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm các khoản tiền gửi; doanh thu từ việc bán các dịch vụ phi tiền gửi; thu hồi các khoản tín dụng đã cấp; bán các tài sản đang có; vay mƣợn trên thị trƣờng tiền tệ. Trong khi đó, cầu thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng.
Những hoạt động tạo ra cầu về thanh khoản bao gồm khách hàng rút tiền từ tài khoản; yêu cầu vay vốn khách hàng; thanh toán các khoản vay phi tiền gửi; chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ; thanh toán cổ tức bằng tiền. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Trạng thái thanh khoản. Trạng thái thanh khoản ròng NPL (net liquidity position) đƣợc xác định nhƣ sau: NPL = Tổng cung về thanh khoản - Tổng cầu về thanh khoản. Có ba trƣờng hợp có thể xảy ra là thặng dƣ thanh khoản, thâm hụt thanh khoản và cân bằng thanh khoản.
Thặng dƣ thanh khoản xảy ra khi cung vƣợt quá cầu thanh khoản, tức là NPL dƣơng. Trong trƣờng hợp này, nhà quản trị ngân hàng phải cân nhắc đầu tƣ số vốn thặng dƣ này để mang lại hiệu quả cho tới khi chúng cần đƣợc sử dụng đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tƣơng lai. Ngƣợc lại, khi cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản, tức là NPL âm, ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thâm hụt thanh khoản. Nhà quản trị phải xem xét, quyết định nguồn tài trợ thanh khoản và tiết giảm chi phí.
Cuối cùng, khi cung thanh khoản cân bằng với cầu thanh khoản tức là NPL=0, trƣờng hợp này đƣợc gọi là cân bằng thanh khoản. Đây là tình trạng rất khó xảy ra trên thực tế vì cung và cầu luôn có sự chênh lệch nhất định.4 Vai trò của thanh khoản tại ngân hàng thƣơng mại. Thanh khoản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi lẽ NHTM cần dự trữ thanh khoản để đáp ứng tất cả những biến động hàng ngày hay theo mùa vụ về nhu cầu rút tiền, chi trả những chi phí thƣờng xuyên, đáp ứng yêu cầu vay mới và đảm bảo an toàn cho những cú sốc thanh khoản không mong đợi mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tƣ có kỳ hạn khác. Bên cạnh đó, đôi khi các ngân hàng có đủ tài sản để thanh toán nhƣng vẫn rơi vào mất khả năng thanh khoản do các khoản đầu tƣ, cho vay không thu hồi kịp để đáp ứng nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn.
Khi đó nguy cơ phá sản là điều có thể xảy ra. Nếu không muốn mất thanh khoản nghiêm trọng thì ngân hàng sẽ chịu vay vốn với lãi suất cao, điều này sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho kết quả kinh doanh của ngân hàng. Với tính chất đặc thù và hiệu ứng dây chuyền trong hệ thống ngân hàng thì thanh khoản đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Một khi thanh khoản của một NHTM có vấn đề thì sẽ lan nhanh cùng với sự lan tỏa của thông tin tạo nên hậu quả khôn lƣờng và sự khủng hoảng tâm lý.
Việc rút tiền ồ ạt xảy ra tại một ngân hàng bị mất thanh khoản sẽ kéo theo một loạt các ngân hàng khác vào tình cảnh tƣơng tự. Khi thanh khoản của hệ thống ngân hàng có vấn đề sẽ ảnh hƣởng đến hệ thống tài chính quốc gia, đến mọi lĩnh vực trong xã hội từ thị trƣờng chứng khoán đến thị trƣờng bất động sản, thị trƣờng lao động, ảnh hƣởng đến tiền gửi của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 ngƣời dân và ảnh hƣởng đến tình hình tín dụng cho nền kinh tế. Do vậy thanh khoản trong hệ thống ngân hàng rất quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của một quốc gia.2 Những vấn đề cơ bản về rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thƣơng mại.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản. Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trƣờng hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mƣợn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.
Rủi ro thanh khoản đƣợc hiểu là nguy cơ không thể thực hiện các nghĩa vụ thanh toán, điều này sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ NHTM nào là bảo đảm khả năng thanh khoản đầy đủ. Do đó, NHTM hoặc có sẵn lƣợng vốn khả dụng, hoặc có thể tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn vay mƣợn bên ngoài với chi phí hợp lý; hoặc có thể nhanh chóng bán bớt một số tài sản để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh. Rủi ro thanh khoản cũng có thể đƣợc hiểu là sự đánh đổi giữa lợi ích ngắn hạn của ngân hàng và rủi ro tiềm ẩn trong dài hạn.
Đó cũng là một phần hệ quả của tình trạng tăng trƣởng tín dụng nóng nhiều năm liền. Khi bong bóng tín dụng xuất hiện, ngân hàng mất khả năng thanh toán những nghĩa vụ nợ đã cam kết thì việc đổ vỡ của hệ thống ngân hàng là điều có thể xảy ra. Việc mất khả năng thanh toán là kết quả của một quá trình quản trị rủi ro thanh khoản chƣa phù hợp.2 Phân loại rủi ro thanh khoản. Rủi ro thanh khoản có thể chi tiết thành hai loại rủi ro là rủi ro thiếu vốn khả dụng và rủi ro mất khả năng thanh toán.
Rủi ro thiếu vốn khả dụng: Để thu lợi nhuận lớn, các ngân hàng tích cực thực hiện chức năng chuyển hóa các phƣơng tiện tiền tệ hay còn gọi là quá trình chuyển đổi tài sản theo kiểu đi vay ngắn hạn nhƣng cho vay dài hạn. Quá trình này đem lại lợi nhuận cực đại cho ngân hàng đồng thời cũng có thể đem lại rủi ro thiếu vốn khả dụng. Ngân hàng có thể vấp phải hai tình huống khó khăn là không thể đáp ứng các cam kết ngắn hạn và kỳ hạn của nguồn vốn ngày càng ngắn lại trong khi kỳ hạn của sử dụng vốn vẫn không đổi. Tình huống thứ nhất đƣợc gọi là rủi ro thiếu vốn khả dụng tức thời.
Gặp tình huống này, ngân hàng không có khả năng đáp ứng nhu cầu rút vốn ngoài dự kiến của khách hàng hay của các tổ chức tín dụng khác. Tình huống thứ hai đƣợc gọi là rủi ro chuyển hóa vốn.