Chương 1 giới thiệu về luận văn. Chương 2 trình bày một số khái niệm, tính bền vững ngân sách và vấn đề thu hút đầu tư. Chương 3 phân tích về tình hình thu chi ngân sách trên địa bàn và đánh giá tính bền vững. Chương 4 trình bày chính sách phát triển kinh tế xã hội và đánh giá chất lượng về môi trường kinh doanh tỉnh.
Chương 5 nêu kết luận và các khuyến nghị chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -4- CHƯƠNG 2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC, TÍNH BỀN VỮNG NGÂN SÁCH VÀ VẤN ĐỀ THU HÚT ĐẦU TƯ Chương này tác giả sẽ trình bày một số khái niệm về ngân sách nhà nước và phân chia nguồn thu ngân sách địa phương; chính sách thu hút đầu tư của địa phương và tổng quan về một số nghiên cứu trước. Tại thời điểm nghiên cứu luận văn, mặc dù đã ban hành Luật ngân sách nhà nước 2015; có hiệu lực từ 01/1/2017.
Tuy nhiên, do số liệu nghiên cứu trong bài viết trong giai đoạn 2005-2014. Do đó, một số khái niệm vẫn được trình bày theo Luật ngân sách nhà nước 2012.1 Về ngân sách nhà nước và phân chia nguồn thu ngân sách nhà nước. Theo điều 1, Luật ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2002: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”. Ngân sách nhà nước hiện nay bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Trong đó việc phân cấp về nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo các nguyên tắc ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách. Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiện những nhiệm vụ được giao; tăng cường nguồn lực cho ngân sách xã (Điều 4 Luật NSNN 2002). Về phân chia nguồn thu giữa ngân sách trung ương (NSTƯ) và ngân sách địa phương (NSĐP) gồm: nguồn thu NSTƯ hưởng 100%, các nguồn thu NSĐP hưởng 100% và các nguồn thu chia sẻ giữa trung ương và địa phương. Tệ phần trăm phân chia các nguồn thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới: được ổn định trong thời gian từ 3 - 5 năm (thời kỳ ổn định ngân sách), được xác điṇh trong năm đầu của thời kì ổn định do Ủy ban Thường vụ Quốc hôị quyết định (Điều 16 Luật NSNN 2002).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Tính bền vững của ngân sách nhà nước. Nghiên cứu của CIEM (2013) nêu định nghĩa bền vững ngân sách: là tình trạng ngân sách luôn có khả năng cung cấp cho Nhà nước những công cụ tài chính khả dụng; trong bất kỳ tình huống nào, thu, chi và nợ NSNN đều được nhà nước kiểm soát một cách chủ động; trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đều không đẩy Nhà nước vào tình trạng vỡ nợ, mất ổn định, mất an toàn tài chính. Khi nói đến bền vững NSNN, các chính sách thu, chi tài chính và nợ công sẽ được xem xét chi tiết. Cũng theo nghiên cứu trên cho rằng: khi NSNN đạt tới sự bền vững thì các chính sách thu, chi tiến triển ổn định, an toàn, vững mạnh, không chứa đựng những nguy cơ xảy ra mất cân đối nghiêm trọng, không dẫn đến đổ vỡ hoặc khủng hoảng ngân sách.
Tính bền vững ngân sách được đánh giá dựa trên các yếu tố như khả năng thanh toán; tính thanh khoản; tính dễ bị tổn thương; bảo đảm tăng trưởng bền vững; tính ổn định; tính công bằng trong việc sử dụng NSNN. Như vậy, các định nghĩa và nguyên tắc trên cho thấy ngân sách bền vững phải thể hiện trên cả hai mặt bền vững thu ngân sách và bền vững chi ngân sách: 1.1 Tính bền vững của thu ngân sách. Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Trong đó, nguồn thu ngân sách nhà nước theo sắc thuế bền vững thể hiện trong việc không có nguồn thu có tính tạm thời, bất thường như khai thác tài nguyên không tái sinh; đất đai, viện trợ.
Theo Rosengard và nhóm tác giả (2006) khi xem xét cơ cấu nguồn thu đã phân chia: Các khoản thu phân chia là các khoản được phân chia giữa chia giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương là khoản thu bền vững. Các khoản thu thường xuyên cũng là thu bền vững trừ khoản thu thuế trước bạ và thu thuế môn bài. Các khoản thu đặc biệt như thu từ bán tài sản nhà nước (Tài nguyên); bán quyền sử dụng đất; xổ số kiến thiết thì không bền vững.2 Tính bền vững của chi ngân sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Thông qua hoạt động chi ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, công trình do địa phương quản lý mà không có khả năng thu hồi vốn. Hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Như vậy, chi NSNN trực tiếp thúc đẩy phát triển kinh tế. Chi ngân sách địa phương địa phương hiện nay với hai nhiệm vụ chính là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển.
Các nghiên cứu cho rằng: Chi tiêu ngân sách hiệu quả sẽ có tác động tích cực tới phát triển kinh tế. Từ đó, tạo nguồn thu tiềm năng trong tương lai. Mặt khác, chi ngân sách phải có sự cân đối giữa chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển. Chính quyền địa phương nếu sử dụng quá nhiều nguồn lực cho chi thường xuyên sẽ khó thực hiện những dự án lớn giúp cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng.
Ngoài ra, tốc độ tăng chi ngân sách không được vượt quá tốc độ tăng trưởng kinh tế. Chi đầu tư phát triển sẽ có tác động tích cực tới phát triển kinh tế bền vững (Rosengard và đtg, 2006) 1.3 Về chính sách thu hút đầu tư của các địa phương. Paul Perterson (1981) cho rằng: các địa phương chỉ mong các doanh nghiệp đến đầu tư, những người có kỹ năng đến làm việc và người giàu đến ở. Nếu có những điều này thì kinh tế địa phương sẽ phát triển, thu được thuế cho các dịch vụ công.
Nếu doanh nghiệp ăn nên làm ra thì họ có khả năng đóng thuế nhiều hơn, môi trường kinh doanh và dịch vụ công tốt sẽ tiếp tục thu hút được ba đối tượng nêu trên. Như vậy bằng việc tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, tạo ra nguồn thu tốt trong tương lai và với chính sách chi tiêu hiệu quả tạo ra vòng xoáy trôn ốc tích cực, làm cho nên kinh tế của địa phương đó phát triển. Đối với những địa phương khả năng tự cân đối ngân sách thấp thì việc gia tăng nguồn thu và chính sách chi tiêu hiệu quả sẽ từng bước tạo cân đối ngân sách tại địa phương, giảm sự phụ thuộc vào nguồn thu bổ sung từ ngân sách trung ương. Để phục vụ cho việc đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam trong việc xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Từ năm 2005, phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng với cơ quan hợp tác phát triển Quốc tế Hoa Kỳ US-Aid xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI với 10 chỉ số thành phần (Xem phụ lục 2). Ngoài ra, để đánh giá về chất lượng và hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính công cấp tỉnh. Hiện có chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) với 6 chỉ số thành phần (Xem phụ lục 2). Giúp các tỉnh nhận thức được đánh giá của người dân về hoạt động của bộ máy và có những biện pháp cải thiện và nâng cao chất lượng quản trị và hành chính công.
Đây có thể xem là điều kiện cần để các địa phương xem xét, từng bước cải thiện môi trường kinh doanh, từ đó thu hút doanh nghiệp đầu tư.4 Tổng quan về một số nghiên cứu trước về quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Cung và nhóm tác giả (2004) giải thích tại sao các tỉnh phía bắc không tăng trưởng nhanh hơn cho rằng sự khác biệt là do đất đai. Các tỉnh phía Bắc có xu hướng hạn chế chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, khiến giá đất ở đó cao hơn hẳn một số các tỉnh khác ở phía Nam. Khả năng tiếp cận các nguồn lực cơ bản như đất đai có ảnh hưởng lớn tới quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp.
Nghiên cứu McKinsey & Company (2008) cho rằng: Đối với các doanh nghiệp, quan tâm chính của họ là lợi nhuận cuối cùng chứ không phải chi phí cao hay thấp. Nếu mức lợi nhuận vẫn tốt thì họ tiếp tục mở rộng sản xuất, kinh doanh thay vì chuyển địa điểm đi nơi khác. Đồng quan điểm này, (Economist 2013a) cho rằng: Sưu cao thuế nặng đã không làm các doanh nghiệp và người lao động nản lòng vì họ có được các dịch vụ công, môi trường kinh doanh, môi trường sống tốt. Tóm tắt chương 2: Chương 2 đã trình bày một số khái niệm về ngân sách nhà nước và phân chia nguồn thu ngân sách địa phương; cơ sở về tính bền vững của ngân sách nhà nước; chính sách thu hút đầu tư của địa phương.
Đồng thời cũng nêu lên việc đánh giá tính bền của nguồn thu ngân sách theo sắc thuế hiện hành bằng việc phân chia nhóm nguồn thu để đánh giá tính bền vững của các khoản thu. Đánh giá chi ngân sách bền vững dựa trên cân đối ngân sách thu chi của địa phương và việc thực hiện các khoản chi trong phát triển kinh tế của địa phương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- CHƯƠNG 3.