đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và thực tiễn Khái niệm và một số lý thuyết về nghèo Lý thuyết sinh kế Kinh nghiệm giảm nghèo của các địa phương Chương 3: Tổng quan thực trạng về công tác giảm nghè trên địa bàn huyện Đức Huệ, ỉnh Long An giai đoạn 2 11 - 2014 Khái quát và thực trạng giảm nghèo của tỉnh Long An Khái quát về huyện Đức Huệ Các đặc điểm thực trạng nghèo của huyện Đức Huệ Chương 4: Thiết kế nghiên cứ Nghiên cứu sơ bộ Nghiên cứu chính thức Khung phân tích thực trạng Chương 5: Kết quả nghiên cứu Thống kê 5 vốn tài sản sinh kế của hộ và hiệu quả các chính sách hỗ trợ giảm nghèo Chương 6: Kết luận và gợi ý chính sách Kết luận và gợi ý chính sách rút ra từ kết quả nghiên cứu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC IỄN 2. Khái niệm về nghè 2. Khái ni m chung Đói nghèo là một khái niệm đa chiều có tính phức tạp, thường được mô tả như một tình trạng theo đó những cá nhân, những hộ gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn lực thu nhập có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng các nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc.
Theo cách tiếp cận này, đói nghèo là tình trạng thiếu thốn vật chất (Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc hợp tác, 2012). Hội nghị ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Bangkok, Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau: "Nghèo là một bộ phận dân cư không thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của địa phương”. Tại Hội nghị thượng định thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen (Đan Mạch) năm 1995 định nghĩa "Nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD một ngày cho mỗi người, số tiền coi như đủ để mua sản phẩm thiết yếu để tồn tại (trích theo Nguyễn Trọng Hoài, 2007). Nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình "Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam - 1995" đã đưa ra định nghĩa: "Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế." Vào năm 2000, các nguyên thủ quốc gia trên thế giới đã long trọng cam kết sẽ chặn đứng tình trạng nghèo cùng cực vào năm 2015 với một kế hoạch mang tầm vóc toàn cầu với tên gọi Những Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs).
Nhờ nỗ lực của hàng triệu người trên khắp các lục địa và những hành động cụ thể với quy mô to lớn, những thành tựu thực sự đã được thực hiện. Số người sống trong nghèo đói trên thế giới so với năm 1990 đã giảm xuống hơn phân nửa. Hơn hai triệu người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 đã được tiếp cận với nguồn nước uống an toàn hơn. Việt Nam cũng đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc đạt được MDGs.
Đặc biệt, Liên Hiệp Quốc sẽ thu thập ý kiến của đại diện 8 nhóm bao gồm dân tộc thiểu số, người nghèo ở thành thị và nông thôn, người khuyết tật, người sống chung với HIV, thanh niên, người cao tuổi và khu vực kinh tế tư nhân. Khái niệm nghèo của Việt Nam Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2003), “Nghèo đói đồng nghĩa với nhà ở bằng tranh, không có đủ đất đai, không có trâu bò, không có tivi, con cái thất học, ốm đau không có tiền khám chữa bệnh”. Phân loại ghè 2. Nghèo tu ệt đối Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống.
Nhu cầu cơ bản, tối thiểu đó là mức bảo đảm tối thiểu về ăn, mặc, nhà ở, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục và vệ sinh môi trường. Nhu cầu này cũng có sự thay đổi, khác biệt từng quốc gia và cũng được mở rộng dần. Theo Đinh Phi Hổ (2006), nghèo tuyệt đối được hiểu là một người hoặc một hộ gia đình khi có mức thu nhập thấp hơn mức thu nhập tối thiểu được quy định bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoảng thời gian nhất định. Nghèo tư ng đối Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng ở một thời kỳ nhất định.
Nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định. Theo Đinh Phi Hổ (2006), nghèo tương đối là tình trạng mà một người hoặc hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội xét theo không gian và thời gian nhất định. Như vậy, nghèo tương đối được xác định trong mối tương quan xã hội về tình trạng thu nhập với nhóm người. Ở bất kỳ xã hội nào, luôn luôn tồn tại nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội, người nghèo đói tương đối sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển kinh tế nào.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo WB (2008), “Nghèo là tình trạng đói, nghèo là thiếu nơi cư trú. Nghèo là bị bệnh và không thể gặp bác sĩ. Nghèo là không thể đi học và không biết cách đọc như thế nào. Nghèo là không tìm được việc làm, lo lắng cho tương lai”.
Lý giải cho tình trạng tụt hậu của nhiều nước đang phát triển, các nhà kinh tế mô tả “Vòng lẩn quẩn của nghèo đói”.1: Vòng lẩn quẩn của nghèo đói Nguồn: Đinh Phi Hổ (2003), Kinh tế nông nghiệp: Lý thuyết và thực tiễn, Nhà xuất bản Thống kê 2. Chuẩn nghèo thu nhập chung của Chính phủ giai đoạn 2011 - 2015 (Chính phủ Việt Nam ban hành Quyết định 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 về việc chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2011 - 2015). - Hộ nghèo khu vực nông thôn có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống. - Hộ nghèo khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống.
Chuẩn nghèo là một khái niệm động, thay đổi theo không gian, thời gian và trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Ở Việt Nam, lúc đầu nghèo được xác định tiêu chí đánh giá là dựa vào nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang chỉ tiêu thu nhập. Mức chuẩn này gọi là chuẩn nghèo, được xác định dựa trên các tính toán của các cơ quan chức năng như Tổng cục Thống kê hay Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Kết quả là, Việt Nam đã 5 lần công bố chuẩn nghèo đói cho từng giai đoạn khác nhau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Quy định về chuẩn nghèo đói theo chuẩn quốc gia của Việt Nam Chuẩn nghèo đói qua Mức hu nhập bình Phân loạ người nghèo đói các gia đoạ quân/người/thá g Đói (khu vực nông thôn) Dưới 8Kg 1993-1995 Đói (khu vực thành thị) Dưới 13Kg (Mức thu nhập qui ra gạo) Nghèo (khu vực nông thôn) Dưới 15Kg Nghèo (khu vực thành thị) Dưới 20Kg Dưới 13Kg Đói (tính cho mọi khu vực) (45.000 đồng) Dưới 25Kg Nghèo (khu vực thành thị) (90.000 đồng) Nghèo (khu vực nông thôn Dưới 80.000 đồng 2001 - 2005 miền núi, hải đảo) (Mức thu nhập tính Nghèo (khu vực nông thôn Dưới 100.000 đồng bằng tiền) đồng bằng trung du) Nghèo (khu vực thành thị) Dưới 150.000 đồng 2006 - 2010 Nghèo (khu vực nông thôn) Dưới 200.000 đồng bằng tiền) 2011 - 2015 Nghèo (khu vực nông thôn) Dưới 400.000 đồng Nguồn: Bộ LĐ-TBXH, chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN giai đoạn 1998 - 2000; Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg và Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Tất cả những khái niệm về nghèo đói nêu trên đều phản ảnh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo: (i) có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; (ii) không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản, tối thiểu dành cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 con người trong cộng đồng đó và (iii) thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Chuẩn nghèo t u nhập của tỉnh Long An Hộ nghèo khu vực nông thôn có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân 540.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm). Lý thuyết sinh kế Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát triển vào những năm đầu 1990. Tác giả Chambers và Conway (1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ.
Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội. Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác. Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai. Tiếp cận sinh kế ngày nay đã được áp dụng rộng rãi khi nghiên cứu về đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ gia đình ở các nước đang phát triển.
Khung phân tích sinh kế bền vững (DFID, 1999) xác định năm nhóm tài sản, hay còn được hiểu là “vốn” mà sinh kế dựa vào. Các tài sản này bao gồm tài sản (hoặc là vốn) con người, tự nhiên, vật chất, tài chính và xã hội. Gia tăng khả năng tiếp cận đến các tài sản sinh kế này bằng cách sở hữu hay sử dụng được hiểu là hỗ trợ cho sinh kế và giảm nghèo. Khái niệm tài sản sinh kế cho phép hiểu nghèo đa chiều thông qua các chỉ báo về tài sản sinh kế.
Như vậy, có thể tồn tại các quan hệ chặt chẽ giữa các chỉ báo nghèo về tiền và các chỉ báo về tài sản sinh kế. Mỗi tài sản sinh kế cũng có thể được coi là một chiều đo lường của nghèo đa chiều, và được biểu thị bằng nhiều chỉ báo khác nhau. Nghiên cứu này dựa vào lý thuyết sinh kế bền vững vì tính chất toàn diện của lý thuyết cho phép tạo ra nền tảng hình thành các chiều đo lường khác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.