chương 1 Chương lý luận cung cấp lý thuyết cơ bản về hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại. Bằng những kiến thức đó, chúng ta có được cái nhìn toàn diện hơn về hoạt động này từ cách thức tác nghiệp, các giai đoạn, các rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện từng phương thức thanh toán. Đó cũng là cơ sở kiến thức nền tảng giúp chúng ta đề ra những cải tiến, chính sách nhằm hoàn thiện quy trình và giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng năng lực cạnh tranh của mình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Chương 2: Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và ảnh hưởng của nó đến kinh tế Việt Nam 2.1 Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2.1 Diễn biến khủng hoảng Dưới đây là những sự kiện chính được thông tin liên tục trong thời gian khủng hoảng xảy ra.
Ngày 2/4/2007, công ty hàng đầu trong hoạt động cho vay dưới chuẩn tại Mỹ, New Century Financial, buộc phải nộp đơn bảo hộ phá sản. Đây được coi là một trong những dấu hiệu bất ổn đầu tiên của thị trường cho vay thế chấp tại Mỹ. Cổ phiếu của các ngân hàng chuyên về hoạt động kinh doanh này như Countrywide cũng chịu nhiều sức ép. Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo sợ và đến rút tiền, gây ra hiện tượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng thêm khó khăn.
Nguy cơ khan hiếm tín dụng hình thành. Cuộc khủng hoảng tài chính thực thụ chính thức nổ ra. Ngày 9/8/2007, thị trường tín dụng đóng băng. Tín dụng rơi tự do sau khi BNP Paribas thông báo rằng 2 trong số những quỹ lớn nhất của họ "hoàn toàn mất thanh khoản" đối với những tài sản liên quan đến chứng khoán.
Ngân hàng trung ương châu Âu buộc phải bơm khoảng 170 tỷ Euro vào thị trường ngân hàng trong khi FED cố gắng cắt giảm tỷ lệ lãi suất. Tuy nhiên, Ngân hàng trung ương Anh vẫn từ chối can thiệp vào thị trường tín dụng. Từ Mỹ, rối loạn lan sang các nước khác. Ở Anh, ngày 14/9/2007, ngân hàng Northern Rock bị chao đảo vì người gửi tiền xếp hàng đòi rút tiền gửi của mình ra khỏi một trong những ngân hàng uy tín hàng đầu nước Anh sau khi thông tin về việc Northern Rock đang phải sống nhờ nguồn gói tài chính khẩn cấp của Ngân hàng trung ương Anh.
Vấn đề mà ngân hàng này đang phải đối mặt chính là phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động kinh doanh tài chính quy mô lớn trong khi thị trường này đang đi xuống. Ngày 17/3/2008, với nỗ lực giải cứu của ngân hàng dự trữ liên bang NewYork không thành, Bear Sterns chấp nhận để chính đối thủ lâu năm JP Morgan Chase mua lại với giá 10 dollar một cổ phiếu, sau khi chính phủ Mỹ đứng ra đảm bảo cho khoản lỗ lên tới 30 tỷ USD. Mức giá này là thấp hơn rất nhiều với giá 130,2 dollar một cổ phiếu lúc đắt giá nhất trước khi khủng hoảng nổ ra. Việc Ngân hàng dự trữ liên bang New York cứu không nổi Bear Sterns và buộc lòng để công ty này bị bán đi với giá quá rẻ đã khiến cho sự lo ngại về năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 lực can thiệp của chính phủ cứu viện các tổ chức tài chính gặp khó khăn.
Sự sụp đổ của Bear Sterns đã đẩy cuộc khủng hoảng lên nấc thang trầm trọng hơn. Ngày 7/9/2008, "Những kẻ cùng đường" tiếp theo được chính phủ Mỹ ra tay cứu vớt là hai gã khổng lồ trong lĩnh vực cho vay cầm cố là Fannie Mae và Freddie Mac. Hai công ty này tạm thời được chuyển thành sở hữu công sau khi được trợ giúp nhằm thoát khỏi những khoản lỗ khổng lồ. Ngày 15/9/2008, ngân hàng đầu tư nổi tiếng của Mỹ Lehman Brothers chính thức phá sản sau khi chính phủ nước này từ chối kế hoạch giải cứu tốn kém.
Tiếp sau Lehman là một số công ty khác. Cùng lúc đó Merrill Lynch được mua lại bởi Bank of America sau khi đối mặt với những khoản lỗ khổng lồ. Một ngày sau đó, đại gia bảo hiểm AIG cũng phải nhờ vào khoản vay khẩn cấp 85 tỷ USD từ Bộ Tài chính Mỹ để tồn tại. AIG lâm vào cảnh khốn đốn do tham gia bảo hiểm cho các khoản vay thế chấp.
Ngày 17/9/2008, ngân hàng Lloyds đồng ý mua lại Halifax Bank of Scotland (HBOS) với giá 12,2 tỷ Bảng Anh. Ngân hàng cho vay thế chấp lớn nhất nước Anh lâm vào cảnh khó khăn sau khi cổ phiếu của HBOS mất giá mạnh do niềm tin của khách hàng. Sau khi sáp nhập, ngân hàng này nắm khoảng 1/3 số tài sản được cầm cố tại Anh. Ngày 3/9/2008, Mỹ thông qua gói cứu trợ 700 tỷ USD.
Cuộc giải cứu tài chính lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ được thông qua sau nhiều tranh cãi tại hai viện Quốc hội Mỹ. Ngày 13/10/2008, cả RBS và Lloyds - BOS, hai ngân hàng hàng đầu tại Anh phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng khi thị trường tài chính sụp đổ. Sau khi sáp nhập với HBOS, đến lượt Lloyds không chịu nổi những khoản nợ khổng lồ từ phía đối tác. Ngày 16/12/2008, FED đưa mức lãi suất cơ bản về sát mốc 0%.
Cục dự trữ liên bang Mỹ cắt giảm tỷ lệ lãi suất xuống còn từ 0 đến 0.25% trong nỗ lực tránh suy giảm sâu cho nền kinh tế. Đây là mức lãi suất thấp nhất mà FED từng công bố trong lịch sử của mình. Ngày 22/4/2009, Ngân sách nước Anh thâm hụt nặng. Những khoản chi tốn kém trong thời kỳ khủng hoảng đã khiến nước Anh phải chịu mức thâm hụt ngân sách nặng nề nhất trong lịch sử, khoảng 175 tỷ Bảng Anh.
Tổng số nợ của chính phủ nước này có thể lên tới gần 1.000 tỷ Bảng Anh vào năm 2014. Các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 quan chức cao cấp cho rằng, nước Anh cần 10 năm để trở về với tình trạng ngân sách trước khủng hoảng.2 Nguyên nhân khủng hoảng Đâu là nguyên nhân của những diễn biến nặng nề vừa kể trên. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, sự tăng giá quá cao của nhà ở so với giá trị thực của nó (thường gọi là bong bóng nhà ở) đi kèm với sự giám sát các hoạt động tài chính thiếu hoàn thiện ở Hoa Kỳ đã dẫn tới khủng hoảng tài chính ở nước này vào năm 2007, lên đến đỉnh điểm vào cuối năm 2008. Với vai trò quan trọng của Mỹ (về nhu cầu tiêu dùng, tiền tệ…) đối với thị trường tài chính toàn cầu, cuộc khủng hoảng ở Mỹ ngày một lan rộng ra toàn cầu, gây ra nhiều đổ vỡ tài chính, suy giảm kinh tế hoặc làm giảm khả năng tăng trưởng của nền kinh tế ở nhiều nước trên thế giới tùy vào khả năng và độ mở tài chính của từng nước khác nhau.
Thực hư của quá trình khủng hoảng tài chính ở Mỹ như thế nào, chúng ta đi vào tìm hiểu khái niệm chứng khoán hóa, một khái niệm đã xuất hiện nhiều trong các cuộc thảo luận về khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Chứng khoán hóa là một quá trình tài chính cơ cấu, tại đó các tài sản thế chấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói rồi được dùng làm đảm bảo để phát hành các trái phiếu (gọi chung là trái phiếu đảm bảo bằng tài sản). Tiền từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến các tổ chức tài chính cho vay thế chấp để các tổ chức này cho người đem thế chấp tài sản vay tiền. Chứng khoán hóa chính là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp nơi mà chúng có thể trao đi đổi lại.
Nó đã biến các tài sản kém thanh khoản thành những chứng khoán thanh khoản cao. Các sản phẩm chứng khoán hóa xuất hiện từ đầu thập niên 70 và phát triển mạnh trong môi trường chính sách tiền tệ được nới lỏng từ năm 2001. Chứng khoán hóa và việc ra đời các sản phẩm của quá trình này như chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS), giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO) và các loại tương tự là một phát minh lớn về công cụ tài chính. Tuy nhiên, vì có ít nhất tới 4 loại chủ thể kinh tế liên quan đến chứng khoán hóa (thay vì 2 loại chủ thế kinh tế là người thế chấp - đi vay và tổ chức tín dụng cho vay - nhận thế chấp như giao dịch tín dụng truyền thống), vì sự xuất hiện của bảo hiểm cho các sản phẩm chứng khoán hóa như hợp đồng hoán đổi tổn thất tín dụng (CDS), vì sự ra đời của các thể chế như các thể chế mục đích đặc biệt (SPV) và những công cụ đầu tư kết cấu (SIV) để mua bán MBS và CDO, nên đã tồn tại những rủi ro hệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 thống bao gồm cả rủi ro đạo đức và lựa chọn trái ý.
Trong khi đó, mô hình giám sát tài chính của Hoa Kỳ trước khủng hoảng không đủ năng lực giám sát các rủi ro này. Những rủi ro mang tính hệ thống đã tồn tại và một khi sự cố đối với bong bóng thị trường tài sản xảy ra thì những rủi ro này sẽ làm mất lòng tin ghê gớm của các bên liên quan. Thêm vào đó, việc thực hành cho vay liên ngân hàng sẽ làm cho những tổn thất tín dụng lây lan ra toàn hệ thống ngân hàng, một ngân hàng phá sản sẽ kéo theo nhiều ngân hàng khác phá sản. Và mất lòng tin ở người gửi tiền gây ra đột biến rút tiền gửi còn làm cho tình hình thêm nghiêm trọng và diễn ra nhanh chóng hơn.
Thực tế, thị trường nhà ở bắt đầu tự điều chỉnh từ năm 2005 khiến cho giá nhà đất giảm và chất lượng tài sản đảm bảo cho các MBS và các CDO giảm theo. Rủi ro mang tính hệ thống đã làm cho khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra vào tháng 5 năm 2006 khi mà nhiều tổ chức phát hành MBS và CDO cũng như một số tổ chức tài chính mà trong danh mục tài sản của mình có nhiều MBS và CDO sụp đổ. Tiếp theo đó, khủng hoảng tài chính nổ ra vào tháng 8 năm 2007 khi đến lượt cả các SPV và SIV cũng sụp đổ, rồi phát triển thành khủng hoảng tài chính toàn cầu từ tháng 9/2008 khi cả những tổ chức tài chính khổng lồ như Lehman Brothers sụp đổ.