Luận văn UEH: Đánh giá khủng hoảng kinh tế tới thanh toán quốc tế tại MB Bank

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Quân Đội.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2011

101
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: Lý luận tổng quan về thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại

1.1. Khái niệm thanh toán quốc tế

1.2. Các chủ thể tham gia thanh toán quốc tế

1.2.1. Ngân hàng Trung ương

1.2.2. Ngân hàng thương mại

1.2.3. Các chủ thể khác

1.3. Các phương thức thanh toán quốc tế

1.3.1. Căn cứ vào việc thanh toán có kèm theo các chứng từ

1.3.2. Căn cứ vai trò của ngân hàng trong phương thức thanh toán

1.4. Hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động TTQT

1.4.1. Luật và công ước quốc tế gồm có

1.4.2. Các nguồn luật quốc gia

1.4.3. Thông lệ và tập quán quốc tế

1.5. Đặc điểm của hoạt động thanh toán quốc tế

1.5.1. Yếu tố nước ngoài

1.5.2. Hoạt động thanh toán quốc tế là dịch vụ

1.6. Vai trò của thanh toán quốc tế

2. CHƯƠNG 2: Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và ảnh hưởng của nó đến kinh tế Việt Nam

2.1. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới

2.1.1. Diễn biến khủng hoảng

2.1.2. Nguyên nhân khủng hoảng

2.1.3. Tác động của khủng hoảng tới các nước trên thế giới

2.2. Các tác động của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam trên góc độ phân tích các chỉ số kinh tế-xã hội

2.2.1. Tỷ lệ lạm phát

2.2.2. Tỷ lệ thất nghiệp

2.3. Các tác động của khủng hoảng kinh tế đến hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam

2.3.1. Lương thực, thực phẩm, hàng nông sản

2.3.2. Ngành công nghiệp ô tô

3. CHƯƠNG 3: Hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP Quân đội và ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới tới hoạt động này

3.1. Giới thiệu chung về Ngân hàng Quân đội

3.2. Tình hình thực hiện TTQT tại MB qua các năm 2008-2011

3.2.1. Phân tích tình hình TTQT theo phương thức thanh toán

3.2.2. Phân tích tình hình TTQT theo một số mặt hàng chính

3.2.3. Thu nhập từ dịch vụ TTQT qua các năm 2008 – 2011

3.2.4. Đánh giá ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế tới kết quả hoạt động TTQT

3.2.4.1. Với các giao dịch thanh toán chiều nhập khẩu
3.2.4.2. Với các giao dịch thanh toán chiều xuất khẩu

3.2.5. Các nguyên nhân ảnh hưởng tới hoạt động TTQT

3.2.5.1. Nguyên nhân đối với hoạt động thanh toán nhập khẩu
3.2.5.2. Nguyên nhân đối với hoạt động thanh toán xuất khẩu

4. CHƯƠNG 4: Một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế thế giới đến hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP Quân đội

4.1. Đối với Chính phủ

4.2. Ngân hàng Nhà nước - Ngân hàng TMCP Quân đội

4.2.1. Về mô hình tác nghiệp TTQT

4.2.2. Về đào tạo nhân sự

4.2.3. Về cơ chế, chính sách

4.2.4. Khả năng cung ứng ngoại tệ

4.2.5. Mở rộng quan hệ đại lý

4.3. Doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu

4.3.1. Tái cơ cấu mô hình hoạt động, thanh lọc đội ngũ nhân sự của doanh nghiệp

4.3.2. Tìm sự trợ giúp của cơ quan có thẩm quyền

4.3.3. Tham gia vào hiệp hội kinh doanh theo lĩnh vực hoạt động

4.3.4. Thường xuyên tìm hiểu thông tin đối tác từ nước ngoài thông qua các kênh thông tin khác nhau

PHẦN MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng quan về ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới

Khủng hoảng kinh tế thế giới đã tạo ra những tác động sâu sắc đến nhiều lĩnh vực, trong đó có hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Quân đội. Việc hiểu rõ về khủng hoảng này và những ảnh hưởng của nó là rất quan trọng để có thể đưa ra các giải pháp phù hợp. Khủng hoảng không chỉ ảnh hưởng đến các giao dịch tài chính mà còn tác động đến tâm lý của các nhà đầu tư và khách hàng. Điều này dẫn đến sự thay đổi trong cách thức hoạt động của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là trong lĩnh vực thanh toán quốc tế.

1.1. Khủng hoảng kinh tế thế giới và nguyên nhân

Khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu từ năm 2008, với nguyên nhân chủ yếu là sự sụp đổ của thị trường bất động sản tại Mỹ. Sự gia tăng nợ xấu và các vấn đề tài chính đã lan rộng ra toàn cầu, ảnh hưởng đến nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Các ngân hàng thương mại, bao gồm ngân hàng TMCP Quân đội, phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc duy trì hoạt động thanh toán quốc tế.

1.2. Tác động của khủng hoảng đến hoạt động thanh toán quốc tế

Khủng hoảng kinh tế đã làm giảm sút nhu cầu thanh toán quốc tế, dẫn đến sự sụt giảm doanh số giao dịch tại ngân hàng TMCP Quân đội. Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu gặp khó khăn trong việc thanh toán, ảnh hưởng đến dòng tiền và khả năng thanh toán của họ. Điều này đã tạo ra áp lực lớn lên ngân hàng trong việc duy trì hoạt động thanh toán quốc tế.

II. Thách thức trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Quân đội

Ngân hàng TMCP Quân đội đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong hoạt động thanh toán quốc tế do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế. Những thách thức này không chỉ đến từ yếu tố bên ngoài mà còn từ chính nội bộ ngân hàng. Việc nhận diện và giải quyết các thách thức này là rất cần thiết để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững.

2.1. Khó khăn trong việc duy trì dòng tiền

Khó khăn trong việc duy trì dòng tiền là một trong những thách thức lớn nhất mà ngân hàng TMCP Quân đội phải đối mặt. Sự sụt giảm doanh số thanh toán quốc tế đã làm giảm thu nhập từ dịch vụ, ảnh hưởng đến khả năng tài chính của ngân hàng. Điều này đòi hỏi ngân hàng phải có các biện pháp hiệu quả để cải thiện tình hình tài chính.

2.2. Tác động của chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước cũng có tác động lớn đến hoạt động thanh toán quốc tế. Việc điều chỉnh lãi suất và các chính sách ngoại hối có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của các doanh nghiệp. Ngân hàng TMCP Quân đội cần phải theo dõi sát sao các chính sách này để có thể điều chỉnh hoạt động của mình cho phù hợp.

III. Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế

Để đánh giá ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Quân đội, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học. Việc sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích và so sánh sẽ giúp đưa ra những nhận định chính xác về tình hình hoạt động thanh toán quốc tế.

3.1. Phân tích số liệu thống kê

Phân tích số liệu thống kê từ các báo cáo tài chính của ngân hàng TMCP Quân đội sẽ giúp xác định rõ mức độ ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến doanh số thanh toán quốc tế. Việc so sánh các chỉ số qua các năm sẽ cho thấy xu hướng và biến động trong hoạt động thanh toán.

3.2. Đánh giá từ các chuyên gia

Đánh giá từ các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng cũng là một phương pháp quan trọng. Các chuyên gia có thể cung cấp những nhận định sâu sắc về tình hình thị trường và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Quân đội.

IV. Giải pháp cải thiện hoạt động thanh toán quốc tế

Để cải thiện hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Quân đội, cần có những giải pháp cụ thể và hiệu quả. Các giải pháp này không chỉ giúp khắc phục những khó khăn hiện tại mà còn tạo ra cơ hội phát triển trong tương lai.

4.1. Tăng cường đào tạo nhân sự

Đào tạo nhân sự là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế. Ngân hàng TMCP Quân đội cần đầu tư vào đào tạo và phát triển kỹ năng cho nhân viên để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.

4.2. Cải tiến công nghệ thanh toán

Cải tiến công nghệ thanh toán cũng là một giải pháp cần thiết. Việc áp dụng các công nghệ mới sẽ giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế, giảm thiểu rủi ro và tăng cường sự hài lòng của khách hàng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai

Kết luận, khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Quân đội. Tuy nhiên, với những giải pháp phù hợp, ngân hàng có thể vượt qua khó khăn và phát triển bền vững trong tương lai. Việc nắm bắt xu hướng và điều chỉnh chiến lược sẽ giúp ngân hàng duy trì vị thế cạnh tranh trong thị trường.

5.1. Tương lai của hoạt động thanh toán quốc tế

Tương lai của hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Quân đội sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các biến động của thị trường. Ngân hàng cần phải chủ động trong việc tìm kiếm cơ hội và phát triển các dịch vụ mới để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

5.2. Định hướng phát triển bền vững

Định hướng phát triển bền vững là mục tiêu quan trọng mà ngân hàng TMCP Quân đội cần hướng tới. Việc xây dựng các chiến lược dài hạn sẽ giúp ngân hàng không chỉ vượt qua khủng hoảng mà còn phát triển mạnh mẽ trong tương lai.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh đánh giá ảnh hưởng của hoảng kinh tế thế giới tới hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng tmcp quân đội

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 Chương lý luận cung cấp lý thuyết cơ bản về hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại. Bằng những kiến thức đó, chúng ta có được cái nhìn toàn diện hơn về hoạt động này từ cách thức tác nghiệp, các giai đoạn, các rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện từng phương thức thanh toán. Đó cũng là cơ sở kiến thức nền tảng giúp chúng ta đề ra những cải tiến, chính sách nhằm hoàn thiện quy trình và giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng năng lực cạnh tranh của mình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Chương 2: Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và ảnh hưởng của nó đến kinh tế Việt Nam 2.1 Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2.1 Diễn biến khủng hoảng Dưới đây là những sự kiện chính được thông tin liên tục trong thời gian khủng hoảng xảy ra.

Ngày 2/4/2007, công ty hàng đầu trong hoạt động cho vay dưới chuẩn tại Mỹ, New Century Financial, buộc phải nộp đơn bảo hộ phá sản. Đây được coi là một trong những dấu hiệu bất ổn đầu tiên của thị trường cho vay thế chấp tại Mỹ. Cổ phiếu của các ngân hàng chuyên về hoạt động kinh doanh này như Countrywide cũng chịu nhiều sức ép. Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo sợ và đến rút tiền, gây ra hiện tượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng thêm khó khăn.

Nguy cơ khan hiếm tín dụng hình thành. Cuộc khủng hoảng tài chính thực thụ chính thức nổ ra. Ngày 9/8/2007, thị trường tín dụng đóng băng. Tín dụng rơi tự do sau khi BNP Paribas thông báo rằng 2 trong số những quỹ lớn nhất của họ "hoàn toàn mất thanh khoản" đối với những tài sản liên quan đến chứng khoán.

Ngân hàng trung ương châu Âu buộc phải bơm khoảng 170 tỷ Euro vào thị trường ngân hàng trong khi FED cố gắng cắt giảm tỷ lệ lãi suất. Tuy nhiên, Ngân hàng trung ương Anh vẫn từ chối can thiệp vào thị trường tín dụng. Từ Mỹ, rối loạn lan sang các nước khác. Ở Anh, ngày 14/9/2007, ngân hàng Northern Rock bị chao đảo vì người gửi tiền xếp hàng đòi rút tiền gửi của mình ra khỏi một trong những ngân hàng uy tín hàng đầu nước Anh sau khi thông tin về việc Northern Rock đang phải sống nhờ nguồn gói tài chính khẩn cấp của Ngân hàng trung ương Anh.

Vấn đề mà ngân hàng này đang phải đối mặt chính là phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động kinh doanh tài chính quy mô lớn trong khi thị trường này đang đi xuống. Ngày 17/3/2008, với nỗ lực giải cứu của ngân hàng dự trữ liên bang NewYork không thành, Bear Sterns chấp nhận để chính đối thủ lâu năm JP Morgan Chase mua lại với giá 10 dollar một cổ phiếu, sau khi chính phủ Mỹ đứng ra đảm bảo cho khoản lỗ lên tới 30 tỷ USD. Mức giá này là thấp hơn rất nhiều với giá 130,2 dollar một cổ phiếu lúc đắt giá nhất trước khi khủng hoảng nổ ra. Việc Ngân hàng dự trữ liên bang New York cứu không nổi Bear Sterns và buộc lòng để công ty này bị bán đi với giá quá rẻ đã khiến cho sự lo ngại về năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 lực can thiệp của chính phủ cứu viện các tổ chức tài chính gặp khó khăn.

Sự sụp đổ của Bear Sterns đã đẩy cuộc khủng hoảng lên nấc thang trầm trọng hơn. Ngày 7/9/2008, "Những kẻ cùng đường" tiếp theo được chính phủ Mỹ ra tay cứu vớt là hai gã khổng lồ trong lĩnh vực cho vay cầm cố là Fannie Mae và Freddie Mac. Hai công ty này tạm thời được chuyển thành sở hữu công sau khi được trợ giúp nhằm thoát khỏi những khoản lỗ khổng lồ. Ngày 15/9/2008, ngân hàng đầu tư nổi tiếng của Mỹ Lehman Brothers chính thức phá sản sau khi chính phủ nước này từ chối kế hoạch giải cứu tốn kém.

Tiếp sau Lehman là một số công ty khác. Cùng lúc đó Merrill Lynch được mua lại bởi Bank of America sau khi đối mặt với những khoản lỗ khổng lồ. Một ngày sau đó, đại gia bảo hiểm AIG cũng phải nhờ vào khoản vay khẩn cấp 85 tỷ USD từ Bộ Tài chính Mỹ để tồn tại. AIG lâm vào cảnh khốn đốn do tham gia bảo hiểm cho các khoản vay thế chấp.

Ngày 17/9/2008, ngân hàng Lloyds đồng ý mua lại Halifax Bank of Scotland (HBOS) với giá 12,2 tỷ Bảng Anh. Ngân hàng cho vay thế chấp lớn nhất nước Anh lâm vào cảnh khó khăn sau khi cổ phiếu của HBOS mất giá mạnh do niềm tin của khách hàng. Sau khi sáp nhập, ngân hàng này nắm khoảng 1/3 số tài sản được cầm cố tại Anh. Ngày 3/9/2008, Mỹ thông qua gói cứu trợ 700 tỷ USD.

Cuộc giải cứu tài chính lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ được thông qua sau nhiều tranh cãi tại hai viện Quốc hội Mỹ. Ngày 13/10/2008, cả RBS và Lloyds - BOS, hai ngân hàng hàng đầu tại Anh phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng khi thị trường tài chính sụp đổ. Sau khi sáp nhập với HBOS, đến lượt Lloyds không chịu nổi những khoản nợ khổng lồ từ phía đối tác. Ngày 16/12/2008, FED đưa mức lãi suất cơ bản về sát mốc 0%.

Cục dự trữ liên bang Mỹ cắt giảm tỷ lệ lãi suất xuống còn từ 0 đến 0.25% trong nỗ lực tránh suy giảm sâu cho nền kinh tế. Đây là mức lãi suất thấp nhất mà FED từng công bố trong lịch sử của mình. Ngày 22/4/2009, Ngân sách nước Anh thâm hụt nặng. Những khoản chi tốn kém trong thời kỳ khủng hoảng đã khiến nước Anh phải chịu mức thâm hụt ngân sách nặng nề nhất trong lịch sử, khoảng 175 tỷ Bảng Anh.

Tổng số nợ của chính phủ nước này có thể lên tới gần 1.000 tỷ Bảng Anh vào năm 2014. Các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 quan chức cao cấp cho rằng, nước Anh cần 10 năm để trở về với tình trạng ngân sách trước khủng hoảng.2 Nguyên nhân khủng hoảng Đâu là nguyên nhân của những diễn biến nặng nề vừa kể trên. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, sự tăng giá quá cao của nhà ở so với giá trị thực của nó (thường gọi là bong bóng nhà ở) đi kèm với sự giám sát các hoạt động tài chính thiếu hoàn thiện ở Hoa Kỳ đã dẫn tới khủng hoảng tài chính ở nước này vào năm 2007, lên đến đỉnh điểm vào cuối năm 2008. Với vai trò quan trọng của Mỹ (về nhu cầu tiêu dùng, tiền tệ…) đối với thị trường tài chính toàn cầu, cuộc khủng hoảng ở Mỹ ngày một lan rộng ra toàn cầu, gây ra nhiều đổ vỡ tài chính, suy giảm kinh tế hoặc làm giảm khả năng tăng trưởng của nền kinh tế ở nhiều nước trên thế giới tùy vào khả năng và độ mở tài chính của từng nước khác nhau.

Thực hư của quá trình khủng hoảng tài chính ở Mỹ như thế nào, chúng ta đi vào tìm hiểu khái niệm chứng khoán hóa, một khái niệm đã xuất hiện nhiều trong các cuộc thảo luận về khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Chứng khoán hóa là một quá trình tài chính cơ cấu, tại đó các tài sản thế chấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói rồi được dùng làm đảm bảo để phát hành các trái phiếu (gọi chung là trái phiếu đảm bảo bằng tài sản). Tiền từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến các tổ chức tài chính cho vay thế chấp để các tổ chức này cho người đem thế chấp tài sản vay tiền. Chứng khoán hóa chính là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp nơi mà chúng có thể trao đi đổi lại.

Nó đã biến các tài sản kém thanh khoản thành những chứng khoán thanh khoản cao. Các sản phẩm chứng khoán hóa xuất hiện từ đầu thập niên 70 và phát triển mạnh trong môi trường chính sách tiền tệ được nới lỏng từ năm 2001. Chứng khoán hóa và việc ra đời các sản phẩm của quá trình này như chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS), giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO) và các loại tương tự là một phát minh lớn về công cụ tài chính. Tuy nhiên, vì có ít nhất tới 4 loại chủ thể kinh tế liên quan đến chứng khoán hóa (thay vì 2 loại chủ thế kinh tế là người thế chấp - đi vay và tổ chức tín dụng cho vay - nhận thế chấp như giao dịch tín dụng truyền thống), vì sự xuất hiện của bảo hiểm cho các sản phẩm chứng khoán hóa như hợp đồng hoán đổi tổn thất tín dụng (CDS), vì sự ra đời của các thể chế như các thể chế mục đích đặc biệt (SPV) và những công cụ đầu tư kết cấu (SIV) để mua bán MBS và CDO, nên đã tồn tại những rủi ro hệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 thống bao gồm cả rủi ro đạo đức và lựa chọn trái ý.

Trong khi đó, mô hình giám sát tài chính của Hoa Kỳ trước khủng hoảng không đủ năng lực giám sát các rủi ro này. Những rủi ro mang tính hệ thống đã tồn tại và một khi sự cố đối với bong bóng thị trường tài sản xảy ra thì những rủi ro này sẽ làm mất lòng tin ghê gớm của các bên liên quan. Thêm vào đó, việc thực hành cho vay liên ngân hàng sẽ làm cho những tổn thất tín dụng lây lan ra toàn hệ thống ngân hàng, một ngân hàng phá sản sẽ kéo theo nhiều ngân hàng khác phá sản. Và mất lòng tin ở người gửi tiền gây ra đột biến rút tiền gửi còn làm cho tình hình thêm nghiêm trọng và diễn ra nhanh chóng hơn.

Thực tế, thị trường nhà ở bắt đầu tự điều chỉnh từ năm 2005 khiến cho giá nhà đất giảm và chất lượng tài sản đảm bảo cho các MBS và các CDO giảm theo. Rủi ro mang tính hệ thống đã làm cho khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra vào tháng 5 năm 2006 khi mà nhiều tổ chức phát hành MBS và CDO cũng như một số tổ chức tài chính mà trong danh mục tài sản của mình có nhiều MBS và CDO sụp đổ. Tiếp theo đó, khủng hoảng tài chính nổ ra vào tháng 8 năm 2007 khi đến lượt cả các SPV và SIV cũng sụp đổ, rồi phát triển thành khủng hoảng tài chính toàn cầu từ tháng 9/2008 khi cả những tổ chức tài chính khổng lồ như Lehman Brothers sụp đổ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ