Tổng quan nghiên cứu

Thị trường viễn thông Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2007 chứng kiến bước chuyển mình lịch sử khi đất nước chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) - doanh nghiệp nhà nước nòng cốt nắm giữ tổng tài sản gần 4 tỷ USD cùng đội ngũ hơn 90.000 cán bộ công nhân viên - phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn viễn thông đa quốc gia và các doanh nghiệp nội địa mới nổi. Dù chiếm lĩnh thị phần áp đảo với dịch vụ thông tin di động đóng góp gần 50% tổng doanh thu toàn tập đoàn, thương hiệu VNPT lại bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Số liệu điều tra thực tế năm 2005 cho thấy tỷ lệ nhận biết biểu trưng (logo) của VNPT chỉ đạt mức khiêm tốn 41,6%, trong khi có tới 58,7% khách hàng nhầm lẫn VNPT là một cơ quan quản lý hành chính nhà nước thay vì một tập đoàn kinh doanh dịch vụ thương mại.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa quy mô mạng lưới rộng khắp 64 tỉnh thành với sự suy giảm nhận diện và thiếu nhất quán trong hình ảnh thương hiệu VNPT. Mục tiêu cụ thể của đề tài bao gồm: hệ thống hóa lý luận về tài sản thương hiệu, đánh giá toàn diện thực trạng sức khỏe thương hiệu VNPT qua trải nghiệm của khách hàng, và xây dựng hệ thống giải pháp chiến lược định vị thương hiệu giai đoạn 2007 - 2015. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các dịch vụ viễn thông, bưu chính và công nghệ thông tin chủ lực trên phạm vi cả nước. Ý nghĩa nghiên cứu hướng tới việc tái lập chỉ số niềm tin khách hàng, giảm tỷ lệ người dùng hoài nghi về sự đổi mới từ mức 79,2% xuống dưới 15%, đồng thời nâng mức độ nhận diện thương hiệu đồng bộ lên trên 85% trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết tài sản thương hiệu (Brand Equity) của David Aaker với năm thành tố cốt lõi: sự nhận biết thương hiệu, lòng trung thành với thương hiệu, chất lượng cảm nhận, các thuộc tính liên tưởng thương hiệu và các tài sản sở hữu độc quyền khác. Tác giả kết hợp mô hình định giá thương hiệu 5 bước của Interbrand (1988) tích hợp giữa phân tích tài chính và đánh giá chỉ số vai trò thương hiệu để định lượng giá trị tài sản vô hình.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng lý thuyết định vị thương hiệu của Philip Kotler và Marc Filser nhằm xác lập vị trí cạnh tranh của doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng mục tiêu. Khung pháp lý của đề tài dựa trên Điều 785 và Điều 786 Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nghị định 54/2000/NĐ-CP về bảo hộ tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu hàng hóa, cùng các điều ước quốc tế như Thỏa ước Madrid và Công ước Paris về sở hữu công nghiệp mà Việt Nam tham gia từ năm 1949.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tài chính giai đoạn 1990 - 2006 của VNPT và nguồn dữ liệu sơ cấp từ cuộc Tổng điều tra thương hiệu quy mô lớn được Tập đoàn Bưu chính Viễn thông triển khai vào cuối năm 2005. Cỡ mẫu khảo sát gồm 1.200 khách hàng cá nhân và đại diện tổ chức sử dụng dịch vụ trên toàn quốc. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo khu vực địa lý (miền Bắc, miền Trung, miền Nam) và theo nhóm dịch vụ cốt lõi, bảo đảm tính đại diện cao cho hơn 15 triệu thuê bao điện thoại và người dùng bưu chính tại thời điểm khảo sát.

Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, phân tích tần số, đối sánh tỷ lệ phần trăm và ma trận phân tích điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT). Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa chính xác mức độ thỏa dụng của khách hàng trên 4 nhóm dịch vụ chính (Bưu chính, Điện thoại cố định, Di động, Internet), đồng thời bóc tách nguyên nhân gây suy giảm uy tín để thiết kế các giải pháp định vị mang tính thực tiễn cao cho giai đoạn chuyển đổi mô hình công ty mẹ - công ty con theo Quyết định 06/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm ghi nhận 4 phát hiện quan trọng phản ánh rõ nét thực trạng thương hiệu VNPT:

Thứ nhất, mức độ nhận diện biểu trưng và danh xưng thương hiệu còn rất thấp và phân tán. Có 56,4% người được hỏi không nhận biết được logo của VNPT, chỉ có 41,6% nhận biết chính xác. Tên gọi thương hiệu bị bóp méo khi có 43,9% khách hàng đọc sai tên hoặc đọc theo các cách phát âm không chuẩn hóa, 17,5% từ chối hoặc không biết cách đọc, và chỉ 33,9% phát âm đúng chuẩn phiên âm quốc tế.

Thứ hai, định vị loại hình tổ chức bị sai lệch nghiêm trọng trong nhận thức công chúng. Có tới 58,7% khách hàng coi VNPT là cơ quan hành chính nhà nước mang tính quan liêu và bao cấp, trong khi chỉ có 25,2% nhận định đúng VNPT là đơn vị kinh doanh thương mại. Về mức độ hiểu biết lĩnh vực, khách hàng chủ yếu biết đến viễn thông truyền thống (75,5%) và bưu chính (74,0%), trong khi các dịch vụ giá trị gia tăng hiện đại như công nghệ thông tin chỉ đạt 37,8% và tài chính bưu điện chỉ đạt 9,6%.

Thứ ba, tỷ lệ không hài lòng ở các mảng dịch vụ mũi nhọn ở mức đáng báo động. Dịch vụ điện thoại di động có tỷ lệ khách hàng không hài lòng và rất không hài lòng lên đến 25,0% (cộng thêm 31,5% ở mức độ trung dung). Mảng dịch vụ Internet có 21,6% người dùng không hài lòng. Đáng chú ý, có tới 79,2% khách hàng thể hiện thái độ hoài nghi về sự đổi mới của VNPT, trong đó 46,2% hầu như không tin tưởng và 33,0% hoàn toàn không tin tưởng vào các cam kết thay đổi chất lượng phục vụ.

Thứ tư, nguồn gốc của sự phiền lòng xuất phát trực tiếp từ trải nghiệm dịch vụ thực tế kém cỏi chứ không phải do dư luận. Tỷ lệ phiền lòng do trải nghiệm thực tế chiếm 63,5% đối với điện thoại di động, 65,8% đối với dịch vụ Internet, 52,5% đối với điện thoại cố định và 49,0% đối với bưu chính, vượt trội hoàn toàn so với nguyên nhân từ truyền miệng (chỉ chiếm từ 5,4% đến 7,5%).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ cơ chế quản trị kéo dài nhiều năm theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, khiến bộ máy 90.000 lao động chưa thích nghi kịp với văn hóa phục vụ khách hàng. Tiến trình bóc tách giữa khối Bưu chính và Viễn thông diễn ra chậm chạp, dẫn đến việc bù chéo chi phí và làm suy giảm năng lực cạnh tranh của các dịch vụ mới.

Dữ liệu khảo sát được biểu diễn trực quan qua 16 biểu đồ cơ cấu và phân bố mức độ hài lòng. Khi mô tả dữ liệu qua biểu đồ cột so sánh mức độ phiền lòng, yếu tố trải nghiệm thực tế luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trên 50% ở mọi phân khúc dịch vụ. Đồng thời, bảng tổng hợp ma trận kỳ vọng của khách hàng chỉ ra rằng: việc nâng cao trình độ nghiệp vụ nhân viên và rút ngắn thời gian giải quyết khiếu nại nhận được điểm số quan trọng tuyệt đối (đạt điểm 9/10), vượt xa nhu cầu giảm giá cước hay các hoạt động quảng cáo khuyến mãi đơn thuần. So với các nhà mạng mới tham gia thị trường có phong cách phục vụ linh hoạt, tốc độ xử lý sự cố của VNPT bị đánh giá chậm hơn khoảng 30%, đòi hỏi tập đoàn phải nhanh chóng chuyển dịch chiến lược định vị từ thông điệp kỹ thuật thuần túy sang cam kết nhân văn gắn liền với đời sống xã hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Để xây dựng và phát triển bền vững thương hiệu VNPT trong bối cảnh mở cửa thị trường viễn thông, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược trọng tâm:

Thứ nhất, chuẩn hóa toàn diện hệ thống nhận diện thương hiệu tập đoàn. Ban Chỉ đạo Thương hiệu VNPT cần ban hành quy chuẩn bắt buộc áp dụng màu xanh Panton 293c, biểu trưng quỹ đạo vệ tinh chữ V và slogan "Cuộc sống đích thực" (Real life) trên 100% biển hiệu, ấn phẩm, hóa đơn và phương tiện vận chuyển tại 64 bưu điện tỉnh thành. Thời gian triển khai hoàn tất trong vòng 12 tháng giai đoạn 2007 - 2008 nhằm xóa bỏ hình ảnh phân tán trước đây.

Thứ hai, đẩy nhanh tái cơ cấu bộ máy và phân tách triệt để Bưu chính - Viễn thông. Hội đồng Quản trị VNPT cần chủ trì hoàn thiện đề án hạch toán độc lập Tổng công ty Bưu chính Việt Nam và các công ty mạng viễn thông (VinaPhone, MobiFone) trước quý 4/2008. Mục tiêu là giảm 20% chi phí vận hành chồng chéo, tạo điều kiện để từng đơn vị tự chủ xây dựng thương hiệu sản phẩm chuyên biệt.

Thứ ba, thiết lập Bộ tiêu chuẩn dịch vụ khách hàng và tái đào tạo nguồn nhân lực. Trung tâm Đào tạo Tập đoàn triển khai các khóa huấn luyện kỹ năng giao tiếp và xử lý sự cố cho 90.000 cán bộ nhân viên. Thiết lập quy trình cam kết xử lý khiếu nại trong vòng 24 giờ, đặt mục tiêu nâng mức độ hài lòng đối với dịch vụ di động và Internet từ mức dưới 50% lên trên 75% trong giai đoạn 2008 - 2010.

Thứ tư, xúc tiến bảo hộ và quảng bá thương hiệu trên trường quốc tế. Ban Kinh doanh Quốc tế xúc tiến thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu theo Thỏa ước Madrid tại hơn 10 thị trường trọng điểm châu Á và Hoa Kỳ (tiếp nối giấy chứng nhận nhãn hiệu số 44590 tại Việt Nam và văn bằng của USPTO năm 2005). Đồng thời, tập đoàn cần tận dụng sự kiện phóng vệ tinh viễn thông địa tĩnh VINASAT-1 vào quý 2/2008 để thực hiện chiến dịch PR toàn cầu, hướng tới mục tiêu tăng trưởng doanh thu dịch vụ quốc tế từ 15% đến 20% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Ban Lãnh đạo và chuyên viên Marketing tại các Tập đoàn, Doanh nghiệp Nhà nước: Tài liệu cung cấp bài học thực tiễn giá trị về quy trình tái định vị thương hiệu, chuyển đổi văn hóa doanh nghiệp từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường cạnh tranh quốc tế.

  2. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Thương mại, Quản trị Kinh doanh, Marketing: Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực về việc ứng dụng mô hình tài sản thương hiệu của David Aaker và phương pháp định giá thương hiệu Interbrand vào ngành dịch vụ mạng lưới tại Việt Nam.

  3. Các chuyên gia tư vấn chiến lược và chuyên viên Quan hệ Công chúng (PR): Tham khảo bộ công cụ điều tra thị trường với 16 tiêu chí định lượng đo lường nhận thức thương hiệu, từ đó xây dựng các chương trình xử lý khủng hoảng niềm tin và thiết kế cẩm nang nhận diện thương hiệu cho doanh nghiệp quy mô lớn.

  4. Cơ quan hoạch định chính sách thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công Thương: Cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng thực nghiệm để ban hành các chính sách quản lý cạnh tranh, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu quốc gia và chuẩn bị năng lực hội nhập kinh tế sau gia nhập WTO.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao VNPT phải chuyển đổi slogan sang "Cuộc sống đích thực" vào cuối năm 2005? Trước năm 2005, thông điệp "Nối liền mọi khoảng cách" chỉ thuần túy nhấn mạnh khía cạnh kết nối kỹ thuật hạ tầng. Khảo sát 2005 cho thấy hơn 58% khách hàng vẫn coi VNPT là đơn vị hành chính. Khẩu hiệu "Cuộc sống đích thực" (Real life) ra đời nhằm tái định vị tập đoàn thành nhà cung cấp giải pháp đem lại giá trị nhân văn và tiện ích cuộc sống, cam kết đổi mới phục vụ khách hàng.

2. Thách thức lớn nhất đối với thương hiệu VNPT khi Việt Nam gia nhập WTO là gì? Thách thức lớn nhất là nguy cơ sụt giảm thị phần và chảy máu chất xám trước các tập đoàn quốc tế có tiềm lực tài chính hùng mạnh. Ngoài ra, việc vừa phải thực hiện nhiệm vụ công ích vừa kinh doanh cạnh tranh, cùng gánh nặng bộ máy hơn 90.000 lao động chưa đồng đều về trình độ tạo ra sức ép tái cơ cấu vô cùng nặng nề.

3. Luận văn áp dụng phương pháp nào để tiếp cận việc định giá thương hiệu? Luận văn tiếp cận phương pháp kinh tế 5 bước của tổ chức Interbrand (1988), bao gồm: phân khúc thị trường, phân tích tài chính dòng tiền, phân tích chỉ số đóng góp của vai trò thương hiệu, đánh giá điểm số sức mạnh cạnh tranh và chiết khấu dòng thu nhập kỳ vọng trong tương lai để xác định giá trị tài sản vô hình.

4. Mức độ không hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ di động của VNPT ở mức nào? Theo kết quả khảo sát 1.200 mẫu năm 2005, tỷ lệ khách hàng không hài lòng và rất không hài lòng với dịch vụ điện thoại di động chiếm tới 25,0%. Đáng chú ý, có 31,5% người dùng ở trạng thái trung dung, đồng nghĩa với việc có trên 56% khách hàng chưa thực sự gắn kết hoặc có thiện cảm với dịch vụ di động của VNPT.

5. VNPT đã thực hiện những bước đi pháp lý nào để bảo hộ thương hiệu trên thị trường quốc tế? Bên cạnh Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa số 44590 được Cục Sở hữu Công nghiệp cấp ngày 23/12/2002 tại Việt Nam, VNPT đã chính thức nhận văn bằng bảo hộ từ Cơ quan Nhãn hiệu và Sáng chế Hoa Kỳ (USPTO) vào ngày 15/08/2005, tạo lập hành lang pháp lý vững chắc cho dịch vụ viễn thông quốc tế trước thềm hội nhập WTO.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc thực trạng nhận diện thương hiệu VNPT qua cuộc khảo sát 1.200 mẫu, chỉ ra điểm nghẽn lớn khi tỷ lệ biết logo chỉ đạt 41,6% và 43,9% khách hàng phát âm sai danh xưng.
  • Nhận diện 4 rào cản nội tại đe dọa sự phát triển của tập đoàn: nhận thức mang tính bao cấp (58,7%), trải nghiệm dịch vụ chưa tốt (trên 60% phiền lòng), hệ thống nhận diện thiếu nhất quán và thiếu bộ phận quản trị thương hiệu chuyên trách.
  • Hệ thống hóa khung lý thuyết chuẩn mực về tài sản thương hiệu của David Aaker và phương pháp định giá Interbrand, làm tiền đề vững chắc cho việc định vị thương hiệu ngành viễn thông.
  • Đề xuất 4 nhóm chiến lược toàn diện: chuẩn hóa màu xanh Panton 293c, bóc tách triệt để Bưu chính - Viễn thông trước quý 4/2008, tái đào tạo 90.000 nhân viên theo bộ tiêu chuẩn phục vụ 24 giờ và mở rộng bảo hộ thương hiệu toàn cầu.
  • Khẳng định lộ trình đưa thương hiệu VNPT gắn liền với sứ mệnh "Cuộc sống đích thực" và dự án phóng vệ tinh VINASAT-1 giai đoạn 2008 - 2015. Độc giả quan tâm hãy liên hệ hoặc tải toàn văn công trình nghiên cứu để ứng dụng mô hình chiến lược thương hiệu vào thực tiễn quản trị doanh nghiệp.