Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về các yếu tố tác động đến thanh khoản tại các NHTM Chương 3: Thực trạng thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị nhằm cải thiện tính thanh khoản của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Ý nghĩa khoa học của đề tài Về mặt khoa học: Hệ thống hóa những lý luận chung về thanh khoản, các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng thương mại Việt Nam, mức độ tác động của các yếu tố đó đến tỷ lệ thanh khoản.
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà khoa học, nhà quản lý ngân hàng và nhà đầu tư tại Việt Nam có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về phương pháp tiếp cận trong đo lường và đánh giá tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng. Thêm vào đó, đề tài đã xác định được những yếu tố tác động đến tỷ lệ thanh khoản và mức độ tác động của những yếu tố trên đến tỷ lệ thanh khoản. Từ đó giúp nhà quản lý ngân hàng xây dựng được biện pháp quản trị thanh khoản phù hợp, có giải pháp duy trì tỷ lệ thanh khoản ở mức an toàn. Luận văn này có thể là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng thương mại về phương pháp luận, cách đo lường, kiểm định các kết quả của nghiên cứu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẾ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THANH KHOẢN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Cơ sở lý luận chung 2. Khái niệm về tính thanh khoản của ngân hàng thương mại Trong kinh doanh: thanh khoản được hiểu là khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt trong một thời gian ngắn với chi phí hợp lý. Tuy nhiên, với ngân hàng, thuật ngữ thanh khoản mang ý nghĩa rộng hơn.
Theo Trần Huy Hoàng (2011) “thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh. Một nguồn vốn được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Một tài sản được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh” Theo Peter S.Rose: “Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà các nhà quản lý phải thực hiện là đảm bảo khả năng thanh khoản hợp lý cho ngân hàng. Một ngân hàng được xem là có khả năng thanh khoản tốt nếu như nó có thể có được những khoản vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu.
Điều này gợi ý rằng, ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt khi ngân hàng có trong tay một lượng vốn khà dụng với quy mô hợp lý hoặc ngân hàng có thể nhanh chóng huy động vốn thông qua con đường vay nợ hay bán tài sản. Khả năng thanh khoản không hợp lý là dấu hiệu đầu tiên cho thấy ngân hàng đang trong tình trạng có vấn đề về tài chính. Lượng tiền gửi của ngân hàng có vấn đề thường giảm dần, làm giảm nguồn cung ứng tiền và buộc ngân hàng phải bán dần các tài sản có tính thanh khoản cao. Những ngân hàng khác sẽ không muốn cho vay đối với ngân hàng có vấn đề nếu như không có sự đảm bảo bổ sung hay lãi suất không được nâng lên và điều này sẽ làm giảm thu nhập, đe dọa sự tồn tại của tổ chức ngân hàng.
Rất nhiều ngân hàng cho rằng vốn thanh khoản có thể được vay hầu như không giới hạn đúng tại thời điểm cần thiết. Do vậy, họ thấy rằng không cần tích trữ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 quá nhiều thanh khoản dưới hình thức tài sản để bán với giá cả ổn định. Tình trạng thiếu hụt tiền mặt nghiêm trọng xảy ra trong vài năm gần đây với một số ngân hàng có vấn đề (như Continental Illinois National Bank of Chicago) cho thấy rằng yêu cầu thanh khoản không thể bị xem nhẹ. Quản trị thanh khoản trở nên quan trọng hơn bao giờ hết bởi vì ngân hàng có thể bị đóng cửa nếu như nó không huy động đủ mức thanh khoản cần thiết dù rằng thực chất ngân hàng chưa mất khả năng thanh toán.
Ví dụ năm 1991, Cục dự trữ liên bang đã buộc phải đóng cửa ngân hàng Southeast Bank of Miami bởi vì ngân hàng này không thanh toán được những khoản vay vốn từ Fed. Hơn nữa trình độ của nhà quản lý thanh khoản là một thước đo quan trọng về hiệu quả quản lý tổng thể trong quá trình hoạt động hướng tới các mục tiêu dài hạn của ngân hàng”. Khái niệm tỷ lệ thanh khoản Hiện nay có nhiều cách đo lường tỷ lệ thanh khoản như: Tài sản thanh khoản Tỷ lệ thanh khoản = Tổng tài sản Tỷ số này cung cấp một thông tin chung về khả năng thanh khoản của ngân hàng, tức là trong tổng tài sản của ngân hàng, tỷ trọng tài sản thanh khoản là bao nhiêu. Tỷ số này cao tức khả năng thanh khoản của ngân hàng rất tốt.
Dư nợ cho vay Tỷ lệ thanh khoản = Tổng tài sản Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm dư nợ cho vay trên tổng tài sản ngân hàng. Do đó tỷ lệ này cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng yếu. Tài sản thanh khoản Tỷ lệ thanh khoản = Tiền gửi + Vốn huy động ngắn hạn Tỷ số này cho biết trong tổng nguồn vốn mà ngân hàng huy động được trong ngắn hạn để cho vay thì những tài sản có khả năng thanh khoản cao nhất chiếm bao nhiêu phần trăm. Tỷ số này cao thể hiện khả năng thanh khoản là tốt.
Dư nợ cho vay Tỷ lệ thanh khoản = Tiền gửi + Vốn huy động ngắn hạn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm khoản cho vay trên nguồn vốn huy động ngắn hạn từ khách hàng và các TCTD khác. Tỷ số này cao thể hiện khả năng thanh khoản của ngân hàng yếu. Cung và cầu thanh khoản Ta có thể mô tả yêu cầu thanh khoản của ngân hàng theo cung cầu như sau: 2. Cung thanh khoản Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, và là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm: (i) Từ phía nguồn vốn: Tiền gửi mới của khách hàng.
Vay trên thị trường tiền tệ. (ii) Từ phía tài sản Khách hàng thanh toán nợ vay. Bán tài sản hay các khoản đầu tư. (iii) Doanh thu từ hoạt động dịch vụ & các khoản thu nhập bằng tiền khác Các khoản thu nhập của ngân hàng trong quá trình thực hiện các dịch vụ cho khách hàng như thu phí bảo lãnh, phí mở LC….
Cầu thanh khoản Cầu thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ ngân hàng. Thông thường, trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng, những hoạt động sau đây tạo ra cầu về thanh khoản: (i) Từ phía nguồn vốn Nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng. Thanh toán các khoản nợ. Bảng cân đối kế toán của ngân hàng thường thể hiện một tỷ lệ lớn các nguồn vốn ngắn hạn (vd: tiền gửi thanh toán & không kỳ hạn) được sử dụng để tài trợ cho các tài sản dài hạn (vd: cho vay mua nhà).
Các khoản tiền gửi thanh toán và không kỳ hạn này cho phép khách hàng rút tiền hoặc yêu cầu thanh toán tại bất kỳ thời điểm nào. Do đó ngân hàng phải luôn đáp ứng được yêu cầu của khách hàng bằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 cách chuyển đổi thành tiền mặt các tài sản có giá trị tương đương tại thời điểm nhận được mệnh lệnh. (ii) Từ phía tài sản Người đi vay muốn rút vốn vay Nhu cầu tài trợ theo các cam kết Nhu cầu thanh khoản từ phía tài sản phát sinh từ nhu cầu của khách hàng trong việc thực hiện các cam kết cho vay và hạn mức tín dụng mà ngân hàng đã cung cấp (iii) Chi phí hoạt động & thuế: Bao gồm chi phí liên quan đến chi phí hoạt động như chi tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, công tác phí, mua sắm tài sản, chi sử dụng dịch vụ của các đơn vị khác, chi trả thuế các loại. (iv) Chi trả cổ tức: Đây là khoản tiền mà ngân hàng phải trả cho các cổ đông 2.
Đánh giá trạng thái thanh khoản Trạng thái thanh khoản ròng NLP (Net liquidity position) tại thời điểm t được xác định như sau: Trạng thái thanh khoản ròng = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản Có ba trường hợp có thể xảy ra như sau: Thặng dư thanh khoản (Liquidity Surplus): Nếu như tại một thời điểm nào đó, tổng cung thanh khoản vượt quá tổng cầu thanh khoản (NLP>0) tình trạng thặng dư thanh khoản xuất hiện và nhà quản lí phải xem xét việc đầu tư có hiệu quả các khoản thặng dư vốn thanh khoản này cho tới khi chúng cần được sử dụng để đáp ứng yêu cầu thanh khoản trong tương lai. Thâm hụt thanh khoản (Liquidity Deficit): Khi cầu về thanh khoản của ngân hàng vượt quá cung thanh khoản (NLP < 0), nhà quản lý phải đối phó với tình trạng thâm hụt thanh khoản. Lúc đó nhà quản lý phải quyết định xem vốn thanh khoản bổ sung sẽ được huy động ở đâu và vào lúc nào. Cân bằng thanh khoản (NLP = 0): Khi cung thanh khoản cân bằng với cầu thanh khoản, tình trạng này được gọi là cân bằng thanh khoản.
Tuy nhiên đây LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 là trường hợp rất hiếm xảy ra. Do đó ngân hàng phải thường xuyên đối phó với thâm hụt thanh khoản hoặc thặng dư thanh khoản. Nhìn chung khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời có sự đánh đổi. Ngân hàng càng tập trung nhiều vốn để sẵn sàng đáp ứng yêu cầu thanh khoản thì khả năng sinh lời dự tính của nó càng thấp (các yếu tố khác không đổi).
Vai trò của thanh khoản trong hoạt động ngân hàng Tính thanh khoản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các ngân hàng thương mại bởi vì: Thứ nhất cần phải có thanh khoản để đảm bảo đáp ứng kịp thời tất cả các biến động hàng ngày hay theo mùa vụ, cả trong trường hợp ngân hàng không chuyển đổi kịp thời các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.