Luận văn Thạc sĩ UEH: Các yếu tố tác động đến chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh các yếu tố tác động đến chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán tại thành phố hồ chí minh, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp

Chuyên ngành

Thương Mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

110
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Dịch vụ và chất lượng dịch vụ

1.2. Khái niệm về dịch vụ

1.3. Đặc điểm của dịch vụ

1.4. Chất lượng dịch vụ

1.5. Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng

1.5.1. Mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ và thang đo Servqual

1.5.2. Sự hài lòng của khách hàng

1.5.3. Quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng

1.6. Mô hình chấp nhận sử dụng thương mại điện tử (e-CAM)

1.6.1. Giới thiệu mô hình

1.6.2. Các nhân tố chính cấu thành

1.7. Một số khái niệm về thị trường chứng khoán

1.7.1. Chứng khoán và thị trường chứng khoán

1.7.1.1. Khái niệm chứng khoán
1.7.1.2. Thị trường chứng khoán

1.7.2. Thành phần tham gia thị trường chứng khoán

1.8. Chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán

1.8.1. Môi giới chứng khoán

1.8.1.1. Khái niệm môi giới chứng khoán
1.8.1.2. Chức năng của hoạt động môi giới chứng khoán
1.8.1.3. Quản lý tiền và chứng khoán của khách hàng
1.8.1.4. Nhận lệnh giao dịch

1.8.2. Đặc điểm của dịch vụ môi giới chứng khoán

1.8.3. Giao dịch chứng khoán trực tuyến

1.8.4. Các yếu tố tác động đến chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ DỊCH VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Sơ lược về thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

2.1.1. Quá trình thành lập Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

2.1.2. Các thành viên Sở giao dịch chứng khoán

2.1.3. Niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

2.2. Tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh thời gian gần đây

2.3. Tình hình dịch vụ môi giới chứng khoán tại Thành phố Hồ Chí Minh

2.4. Luật Chứng khoán và một số cơ sở pháp lý

3. CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1. Tổng luận phương pháp nghiên cứu và qui trình nghiên cứu

3.1.1. Phương pháp nghiên cứu

3.1.2. Qui trình nghiên cứu

3.2. Nghiên cứu sơ bộ

3.2.1. Qui trình thực hiện

3.2.2. Kết quả nghiên cứu sơ bộ

3.2.2.1. Giao dịch trực tuyến
3.2.2.2. Thang đo sự hài lòng
3.2.2.3. Các biến nghiên cứu và thang đo

3.3. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu

3.3.1. Mô hình nghiên cứu

3.3.2. Các giả thuyết nghiên cứu

3.4. Nghiên cứu chính thức

3.4.1. Kích thước mẫu

3.4.2. Quá trình thu thập dữ liệu

3.4.3. Phương pháp xử lý dữ liệu

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thống kê mô tả

4.1.1. Mô tả mẫu

4.1.2. Phân tích mô tả các biến nghiên cứu

4.2. Đánh giá độ tin cậy

4.3. Phân tích nhân tố

4.4. Đặt lại tên và gom biến

4.5. Phân tích tương quan

4.6. Phân tích hồi qui

4.7. Kiểm định mô hình

4.7.1. Kiểm định hệ số

4.7.2. Kiểm định đa cộng tuyến

4.7.3. Kiểm định tự tương quan Durbin – Watson

4.7.4. Kiểm định phương sai thay đổi

4.7.5. Kiểm định số dư có phân phối chuẩn

4.8. Hiệu chỉnh mô hình và các giả thuyết

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Phương hướng phát triển của các công ty chứng khoán

5.2. Kiến nghị một số biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán tại Thành phố Hồ Chí Minh

5.2.1. Về giao dịch trực tuyến

5.2.2. Về thái độ nhân viên

5.3. Đóng góp, hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo

Tài liệu tham khảo

Phụ lục 1: Danh sách Công ty Chứng khoán, Website và Giao dịch trực tuyến

Phụ lục 2: Danh sách các chuyên gia được khảo sát trong nghiên cứu sơ bộ

Phụ lục 3: Bản khảo sát nghiên cứu sơ bộ

Phụ lục 4: Kết quả nghiên cứu sơ bộ

Phụ lục 5: Bản khảo sát nghiên cứu chính thức

Phụ lục 6: Danh sách địa điểm các công ty chứng khoán được khảo sát

Phụ lục 7: Mô tả các biến nghiên cứu

Phụ lục 8: Bảng tổng phương sai trích được giải thích 1

Phụ lục 9: Kết quả xoay Ma trận nhân tố

Phụ lục 10: Bảng tổng phương sai trích được giải thích 2

Tóm tắt

I. Tổng quan về chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán tại TP

Chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường chứng khoán. Dịch vụ này không chỉ giúp nhà đầu tư thực hiện giao dịch mà còn cung cấp thông tin và hỗ trợ cần thiết để tối ưu hóa lợi nhuận. Việc đánh giá chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán giúp các công ty chứng khoán cải thiện dịch vụ và nâng cao sự hài lòng của khách hàng.

1.1. Khái niệm chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán

Chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán được định nghĩa là mức độ đáp ứng nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Nó bao gồm nhiều yếu tố như độ tin cậy, sự phục vụ, và khả năng đáp ứng nhanh chóng. Theo mô hình SERVQUAL, chất lượng dịch vụ được đo lường qua năm yếu tố chính: độ tin cậy, sự đáp ứng, sự đảm bảo, sự đồng cảm và sự hữu hình.

1.2. Tầm quan trọng của chất lượng dịch vụ

Chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán không chỉ ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của các công ty chứng khoán. Một dịch vụ chất lượng cao sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư hơn, từ đó gia tăng doanh thu và lợi nhuận cho công ty.

II. Các yếu tố tác động đến chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố tác động đến chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán tại TP.HCM. Những yếu tố này không chỉ bao gồm các khía cạnh nội bộ của công ty mà còn liên quan đến môi trường bên ngoài và nhu cầu của khách hàng.

2.1. Yếu tố nội bộ của công ty chứng khoán

Các yếu tố nội bộ như trình độ chuyên môn của nhân viên, quy trình làm việc và công nghệ sử dụng đều ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Nhân viên có trình độ cao và quy trình làm việc hiệu quả sẽ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán.

2.2. Yếu tố từ phía khách hàng

Sự kỳ vọng và nhu cầu của khách hàng cũng là yếu tố quan trọng. Khách hàng có sự kỳ vọng cao về dịch vụ sẽ yêu cầu nhiều hơn từ công ty chứng khoán. Do đó, việc hiểu rõ nhu cầu của khách hàng là rất cần thiết để cải thiện chất lượng dịch vụ.

2.3. Yếu tố môi trường bên ngoài

Môi trường kinh tế và chính trị cũng ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Sự ổn định của thị trường chứng khoán và các chính sách pháp lý sẽ tác động đến hoạt động của các công ty chứng khoán và chất lượng dịch vụ mà họ cung cấp.

III. Phương pháp nghiên cứu chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán

Để đánh giá chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán, nghiên cứu sử dụng mô hình SERVQUAL kết hợp với các phương pháp định tính và định lượng. Phương pháp này giúp xác định các yếu tố tác động và mức độ ảnh hưởng của chúng đến sự hài lòng của khách hàng.

3.1. Mô hình SERVQUAL trong nghiên cứu

Mô hình SERVQUAL được sử dụng để đo lường chất lượng dịch vụ thông qua năm yếu tố: độ tin cậy, sự đáp ứng, sự đảm bảo, sự đồng cảm và sự hữu hình. Mô hình này giúp xác định khoảng cách giữa kỳ vọng và cảm nhận của khách hàng về dịch vụ.

3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua bảng khảo sát gửi đến các nhà đầu tư đang sử dụng dịch vụ môi giới chứng khoán. Bảng khảo sát bao gồm các câu hỏi liên quan đến các yếu tố chất lượng dịch vụ và mức độ hài lòng của khách hàng.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán tại TP.HCM còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có nhiều cơ hội để cải thiện chất lượng dịch vụ thông qua việc nâng cao trình độ nhân viên và cải tiến quy trình làm việc.

4.1. Đánh giá chất lượng dịch vụ hiện tại

Kết quả khảo sát cho thấy rằng nhiều nhà đầu tư chưa hoàn toàn hài lòng với chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán. Các yếu tố như sự đáp ứng và độ tin cậy được đánh giá thấp hơn mong đợi.

4.2. Đề xuất cải thiện chất lượng dịch vụ

Để nâng cao chất lượng dịch vụ, các công ty chứng khoán cần tập trung vào việc đào tạo nhân viên, cải tiến công nghệ và quy trình làm việc. Việc lắng nghe ý kiến của khách hàng cũng rất quan trọng để điều chỉnh dịch vụ phù hợp với nhu cầu thực tế.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán tại TP.HCM có vai trò quan trọng trong sự phát triển của thị trường chứng khoán. Việc cải thiện chất lượng dịch vụ không chỉ giúp nâng cao sự hài lòng của khách hàng mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của các công ty chứng khoán.

5.1. Tương lai của dịch vụ môi giới chứng khoán

Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng, dịch vụ môi giới chứng khoán cần phải thích ứng và đổi mới để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Việc áp dụng công nghệ mới sẽ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ và tạo ra nhiều cơ hội mới cho các công ty chứng khoán.

5.2. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc đánh giá tác động của công nghệ thông tin đến chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán. Việc này sẽ giúp các công ty chứng khoán có cái nhìn rõ hơn về xu hướng phát triển trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các yếu tố tác động đến chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Dịch vụ và chất lượng dịch vụ 1.1 Khái niệm về dịch vụ: Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu. Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất. Ví dụ: dịch vụ đào tạo, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ y tế, dịch vụ giải trí, dịch vụ ăn uống, dịch vụ du lịch… 1.2 Đặc điểm của dịch vụ: Dịch vụ là một loại hàng hóa đặc biệt, có các đặc trưng cơ bản khác với các hàng hóa hiện hữu khác như sau: - Tính vô hình của dịch vụ: đây là đặc điểm cơ bản cho thấy dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật thể. Dịch vụ không có hình dáng cụ thể; không thể cầm, cân, đong, đo, đếm được dịch vụ giống như các sản phẩm hữu hình khác.

- Tính không thể tách rời: việc sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm dịch vụ được thực hiện đồng thời. Đối với các sản phẩm hàng hóa, sau khi được sản xuất thường thông qua một hệ thống phân phối trung gian rồi mới được sử dụng. Tuy nhiên, đối với dịch vụ, quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra cùng một lúc. Người sử dụng dịch vụ cũng tham gia vào hoạt động cung cấp dịch vụ.

- Tính không đồng nhất: do việc sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời nên sản phẩm dịch vụ không thể tiêu chuẩn hóa được. Dịch vụ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khó kiểm soát nên chất lượng dịch vụ khác nhau tùy theo thời gian, không gian, người cung cấp dịch vụ hay khách hàng. Khách hàng tiêu dùng là người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 quyết định chất lượng dịch vụ dựa vào cảm nhận của họ. Trong những thời gian khác nhau, sự cảm nhận khác nhau; những khách hàng khác nhau có sự cảm nhận không giống nhau.

- Tính không tồn trữ: dịch vụ không thể lưu kho, cất trữ cũng như vận chuyển từ nơi này sang nơi khác. Do đó mà việc sản xuất và tiêu thụ dịch vụ bị giới hạn bởi thời gian (ví dụ như vé máy bay sẽ không còn ý nghĩa khi máy bay đã cất cánh).2 Chất lượng dịch vụ Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000 đã đưa ra định nghĩa: “Chất lượng dịch vụ là khả năng tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”. Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng chất lượng dịch vụ được xem là kết quả của sự so sánh của khách hàng, được tạo ra giữa sự mong đợi của họ về dịch vụ đó và sự cảm nhận của họ khi sử dụng dịch vụ đó. Các nhà nghiên cứu này định nghĩa chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ, cuối cùng là đưa ra thang đo bao gồm năm thành phần: độ tin cậy, tính đáp ứng, sự đồng cảm, năng lực phục vụ và phương tiện hữu hình (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007)[9].

Parasuraman (1991) giải thích rằng để biết được sự dự đoán của khách hàng thì tốt nhất là nhận dạng và thấu hiểu những mong đợi của họ. Việc phát triển một hệ thống xác định được những mong đợi của khách hàng là cần thiết. Và ngay sau đó ta mới có một chiến lược chất lượng cho dịch vụ có hiệu quả. Parasuraman và cộng sự (1985) đưa ra mô hình năm khoảng cách và năm thành phần chất lượng dịch vụ, gọi tắt là Servqual.

Trong các mô hình chất lượng dịch vụ, có lẽ mô hình phổ biến nhất là mô hình Servqual (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng 1.1 Mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ và thang đo Servqual - Mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ: Thông tin Nhu cầu cá Kinh nghiệm truyền miệng nhân quá khứ Dịch vụ mong đợi Khoảng Khách hàng cách 5 Dịch vụ nhận được Các yếu tố Khoảng Phân phối và cung cấp dịch vụ giao tiếp bên cách 1 (bao gồm các mối liên hệ trước ngoài tới và sau khi thực hiện) khách hàng Khoảng Khoảng Công ty cách 3 cách 4 Sự dịch chuyển của những nhận biết đánh giá theo các giá trị của chất lượng dịch vụ Khoảng cách 2 Sự hiểu biết của nhà quản trị về sự mong đợi của khách hàng Hình 1: Mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ Nguồn: Marketing dịch vụ (2008, trang 172)[8]. + Khoảng cách thứ nhất: Công ty không biết khách hàng mong đợi điều gì. Công ty cung cấp dịch vụ không hiểu được mong đợi của khách hàng hay có sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 khác biệt giữa dịch vụ khách hàng mong đợi và những hiểu biết của công ty về những mong đợi đó. + Khoảng cách thứ hai: Các tiêu chuẩn và thiết kết dịch vụ của công ty không đúng.

Điều này là do có sự khác biệt giữa sự hiểu biết của công ty về sự mong đợi của khách hàng đối với các đặc tính chi tiết. Công ty cung cấp dịch vụ sử dụng các thiết kế và tiêu chuẩn dựa trên mối quan tâm của mình nhiều hơn là căn cứ vào những mong đợi và ưu tiên của khách hàng sử dụng dịch vụ. + Khoảng cách thứ ba: Công ty không chuyển giao đúng các tiêu chuẩn dịch vụ. Đó là do sự nhận biết các đặc tính chi tiết chất lượng dịch vụ khác với quá trình phân phối trên thực tế.

Ngay cả khi tiêu chuẩn dịch vụ đã kề cận với mong đợi của khách hàng nhưng khoảng cách này vẫn có thể xuất hiện, do nhân viên không cung cấp dịch vụ cho khách hàng theo những tiêu chuẩn đã xác định. + Khoảng cách thứ tư: Thực tế thực hiện không giống với cam kết. Những thông tin mà khách hàng nhận được qua hoạt động truyền thông khác biệt với dịch vụ thực tế cung cấp. Những hứa hẹn trong các chương trình quảng cáo có thể làm gia tăng sự mong đợi của khách hàng đồng thời làm giảm chất lượng mà khách hàng cảm nhận khi chúng không được thực hiện như những gì đã hứa hẹn.

+ Khoảng cách thứ năm: Sự khác biệt giữa dịch vụ mong đợi và thực tế nhận được. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách này, khi khách hàng nhận thấy không có sự khác biệt nào giữa dịch vụ họ mong đợi và thực tế nhận được thì chất lượng của dịch vụ được xem là hoàn hảo. Trong khi đó, khoảng cách này lại phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó là khoảng cách một, hai, ba và bốn. Vì vậy có thể biểu diễn mô hình chất lượng dịch vụ bằng hàm số sau: Chất lượng dịch vụ = F{KC5 = f(KC1, KC2, KC3, KC4)} Trong đó: KC1, KC2, KC3, KC4, KC5 lần lượt là các khoảng cách một, hai, ba, bốn, năm trong mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ.

Để thu hẹp khoảng cách thứ năm này, hay nói khác hơn là làm tăng chất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 lượng dịch vụ, cần phải xác định khách hàng mong đợi điều gì, xây dựng các tiêu chuẩn và thiết kế hướng về khách hàng, cải thiện khâu thực hiện dịch vụ đồng thời kiểm soát tốt các cam kết. - Thang đo Servqual: Dựa trên mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ, Parasuraman và cộng sự, 1988 (Fitzsimmons, J., 2006)[22] đã xây dựng thang đo Servqual để khảo sát đánh giá của khách hàng về chất lượng dịch vụ với năm thành phần: (1) tin cậy, (2) đáp ứng, (3) năng lực phục vụ, (4) đồng cảm, và (5) phương tiện hữu hình. Thang đo Servqual có giá trị và ý nghĩa thực tiễn trong đo lường chất lượng dịch vụ và đã được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng và kiểm nghiệm trong nhiều ngành dịch vụ cũng như tại nhiều thị trường khác nhau. Lấy ví dụ Bojanic (1991) kiểm định Servqual với dịch vụ kiểm toán; Cronin and Taylor (1992) với dịch vụ giặt khô; Dabholkar et al (1996) với dịch vụ bán lẻ; Lassar et al (2000) và Mehta et al (2000) với dịch vụ ngân hàng; Nguyễn Đình Thọ và cộng sự (2003) với dịch vụ vui chơi giải trí ngoài trời, v.2 Sự hài lòng của khách hàng “Sự thỏa mãn khách hàng như là điểm gặp nhau hay diện tích trùng nhau giữa khả năng của doanh nghiệp và nhu cầu của khách hàng; hay là mức độ trạng thái cảm giác của một người bắt đầu từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm/ dịch vụ với những kỳ vọng của người đó” (Hà Nam Khánh Giao và Trần Hữu Ái, 2012, trang 35)[6].

Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể hiểu sự hài lòng của khách hàng theo định nghĩa của Oliver (1997) như sau: “Đây là sự phản ứng của người tiêu dùng đối với việc được đáp ứng những mong muốn.”[25] Định nghĩa này hàm ý rằng sự hài lòng của khách hàng chính là sự hài lòng trong việc tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ do LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 nó đáp ứng những mong đợi của họ, bao gồm cả mức độ đáp ứng trên, bằng hoặc dưới mức mong muốn.4 Quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng là hai khái niệm khác biệt nhưng có mối quan hệ với nhau. Chất lượng dịch vụ là khái niệm khách quan, mang tính lượng giá và nhận thức trong khi sự hài lòng là sự kết hợp của các thành phần chủ quan, dựa vào cảm giác và cảm xúc. “Nhiều nghiên cứu cho thấy chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng là hai khái niệm phân biệt, song rất ít nghiên cứu tập trung vào việc kiểm định mức độ giải thích của các thành phần chất lượng dịch vụ đối với sự thỏa mãn khách hàng (Lassar & ctg, 2000). Zeithaml & Bitner (2000) xem chất lượng dịch vụ như là một yếu tố tác động vào sự thỏa mãn của khách hàng.” (Hà Nam Khánh Giao và Trần Hữu Ái, 2012, trang 35)[6] Chất lượng liên quan đến việc cung cấp dịch vụ còn sự hài lòng chỉ đánh giá được sau khi đã sử dụng dịch vụ đó.

Vấn đề là, nếu chất lượng được cải thiện nhưng không dựa trên nhu cầu của khách hàng thì khách hàng sẽ không hài lòng với dịch vụ đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ