Chương 1 nêu lên những vấn đề chung như bối cảnh chính sách, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin phục vụ cho nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài và tổng quan các nghiên cứu trước gồm có các khái niệm, khung lý thuyết phân tích. Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu định lượng và thảo luận.
Chương cuối cùng sẽ đưa ra kết luận và các khuyến nghị chính sách, cũng như đề cập đến những hạn chế trong quá trình thực hiện đề tài nhằm gợi ra các hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Các khái niệm về đầu tư Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan23. Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam24.
Có nhiều khái niệm về môi trường đầu tư, một trong những số đó được hiểu rằng môi trường đầu tư là tập hợp các yếu tố đặc thù địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực để doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất25. Nhưng môi trường đầu tư còn được định nghĩa là chính sách, thể chế, và môi trường hành vi, cả trong hiện tại và dự kiến, ảnh hưởng đến lợi nhuận và rủi ro liên quan đến đầu tư26. Môi trường đầu tư là những yếu tố về kinh tế, tiền tệ và những điều kiện khác có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của đầu tư27. Một định nghĩa khác về môi trường đầu tư, đó là các điều kiện về kinh tế và tài chính trong một đất nước ảnh hưởng đến việc các cá nhân và doanh nghiệp sẵn sàng bỏ tiền đầu tư hoặc mua cổ phần trong các doanh nghiệp hoạt động ở đó.
Môi trường đầu tư xét ở cấp độ quốc gia bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm: nghèo đói, tội phạm, lực lượng lao động, cơ sở hạ tầng, an ninh quốc gia, bất ổn 23 Theo Điều 3 khoản 1 Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Khoá 11) thông qua ngày 29/11/2005. 24 Theo Điều 3 khoản 4 Luật Đầu tư giải thích: Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân bao gồm: a) Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật doanh nghiệp; b) Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác xã; c) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước khi Luật này có hiệu lực; d) Hộ kinh doanh, cá nhân; đ) Tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài thường trú ở Việt Nam; e) Các tổ chức khác theo quy định của pháp luật Việt Nam. 25 WorldBank (2004), Người dịch Vũ Cương và ctg, Báo cáo phát triển thế giới 2005 – Môi trường Đầu tư Tốt hơn cho Mọi người, NXB Văn hoá-Thông tin, Hà Nội, tr. 26 Stern, 2002, trích trong Asian Development Bank (2005), “The Road to Recovery - Improving the Investment Climate in Indonesia”, page 3.
27 FETP (2012), “FETP Economics Glossary”, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 10 - chính trị, thuế, quy định của pháp luật, quyền sở hữu, quy định của chính phủ, sự minh bạch và trách nhiệm của chính phủ28. Trong nghiên cứu này, sự hài lòng của nhà đầu tư nói lên mức độ thoả mãn của doanh nghiệp khi xem xét, đánh giá tất cả hoạt động liên quan đến công việc kinh doanh tại một địa phương29. Về lý thuyết, khách hàng chỉ chọn những sản phẩm đem lại sự hài lòng cho họ, hay nói cách khác là lựa chọn những địa điểm đầu tư đem lại những lợi ích, hoặc bảo đảm những lợi thế cho họ trong hoạt động đầu tư.2 Tiếp cận marketing địa phương trong thu hút đầu tư Lý thuyết marketing địa phương cho thấy, chính quyền địa phương cần xem các nhà đầu tư như khách hàng30, đồng thời việc am hiểu nhu cầu các nhà đầu tư là hết sức cần thiết để thoả mãn các nhu cầu của họ.
Ngoài ra, chính quyền địa phương cần nắm bắt những đòi hỏi của nhà đầu tư về địa phương mình31. Để cạnh tranh với các địa phương, chính quyền địa phương cần làm cho địa phương mình có những đặc tính có thể thoả mãn, hài lòng đối với khách hàng là các nhà đầu tư hiện tại cũng như tương lai. Sự hài lòng của nhà đầu tư với một địa phương là lợi thế cạnh tranh của địa phương đó32. Nếu địa phương đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư thì sẽ tác động tích cực đến sự hài lòng dẫn đến họ quyết định đầu tư tại địa phương.
Với cách tiếp cận marketing địa phương trong thu hút vốn đầu tư, yếu tố quan trọng mà chính quyền địa phương cần quan tâm đó là “sản phẩm” cung cấp cho khách hàng (ở đây là nhà đầu tư). Sản phẩm được hiểu là bất kể cái gì làm thoả mãn khách hàng, và lý thuyết marketing hiện đại chỉ ra rằng khách hàng mua một sản phẩm không phải vì những đặc điểm mà nhà sản xuất cho là tốt mà vì những lợi ích của sản phẩm. Sản phẩm không phải là bản thân chính sách thu hút đầu tư mà chính là môi trường đầu tư của một địa phương33. Do đó, chính quyền địa phương cần có quá trình phục vụ, làm hài lòng các nhà đầu tư và từng bước cải thiện môi trường đầu tư nhằm nắm giữ, phát triển các nguồn đầu tư hiện có, 28 Investopedia (2012), “Investment Climate”, Investopedia ULC.
29 Lam & đtg (2004, trích trong Nguyễn Đình Thọ, 2010, tr. 30 Mai Thế Cường (2005, tr. 31 Ulaga (2002, trích trong Nguyễn Đình Thọ, 2010, tr. 32 Nguyễn Đình Thọ (2010, tr.
33 Mai Thế Cường (2005, tr. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 11 - thu hút các nguồn đầu tư tiềm năng, phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Chiến lược cải thiện môi trường đầu tư thực hiện thông qua việc tìm hiểu nhu cầu của các nhà đầu tư nhằm có những giải pháp thích hợp thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu đầu tư tại địa phương34.3 Tổng quan các nghiên cứu trước về các yếu tố của môi trường đầu tư tác động đến sự hài lòng của nhà đầu tư Một doanh nghiệp tìm kiếm một địa điểm để kinh doanh hay đầu tư ở nước ngoài cần xem xét các điều kiện, tiêu chuẩn sau: thị trường lao động, cơ sở hạ tầng và các yếu tố sản xuất cần thiết, chính sách thuế và các quy định, luật lệ, dễ dàng khi tiếp cận khách hàng và các nhà cung cấp35. Bên cạnh đó, nguồn vốn con người, sự ổn định về kinh tế vĩ mô, chi phí sản xuất, mức độ tham nhũng, chất lượng thể chế, các ưu đãi tài chính, quy mô thị trường, các yếu tố nội sinh của địa điểm đầu tư.
là những yếu tố tác động đến lựa chọn địa điểm đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài36. Một số nghiên cứu sử dụng mô hình định lượng đã kết luận rằng vốn FDI tích lũy, quy mô thị trường, mức độ phát triển kinh tế, thương mại tự do, chi phí lao động, vị trí địa lý, và cơ sở hạ tầng giao thông là những yếu tố quan trọng của môi trường đầu tư có tác động tích cực đến việc lựa chọn sẽ đầu tư ở địa phương nào của nhà đầu tư nước ngoài. Chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng các nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài là cơ sở để thu hút nguồn vốn FDI nhiều hơn ở các địa phương37. Ngoài các đặc tính của một địa phương mà các nhà đầu tư nước ngoài cần xem xét để lựa chọn địa điểm đầu tư (tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố nội sinh, các yếu tố về chi phí, thể chế, sự ổn định chính trị, bất ổn vĩ mô, chính sách thuế.) thì sự hình thành các cụm ngành38 cũng có ảnh hưởng đến lựa chọn địa 34 Hồ Đức Hùng và đ.g (1993, trích trong Lee, 2010, tr.6) trên cơ sở tổng hợp, đánh giá các nghiên cứu trước trên các tiếp cận khác nhau (mô hình OLI của Dunning, cách tiếp cận thể chế, lý thuyết thương mại mới) về các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa điểm đầu tư của các công ty đa quốc gia.
37 Li (2005, trích trong Võ Bửu Viết Cường, 2012, tr. 38 Cụm ngành được định nghĩa bao gồm các công ty tạo ra sản phẩm hay dịch vụ cuối, các nhà cung ứng những đầu vào, các tổ chức tài chính và doanh nghiệp trong các ngành liên quan, nhà sản xuất sản phẩm bổ trợ, nhà cung cấp hạ tầng chuyên dụng, chính quyền và các tổ chức cung cấp hoạt động đào tạo chuyên môn, giáo dục, thông tin, nghiên cứu và hỗ trợ kỹ thuật (như các đại học, cơ quan nghiên cứu chính sách, trường dạy nghề), những cơ quan thiết lập tiêu chuẩn, và chúng có sự tập trung về mặt địa lý (Porter, 2008, tr.2-3) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 12 - điểm đầu tư của dòng vốn FDI39. Năng lực cạnh tranh (mà cụm ngành là một trong những thành phần quan trọng) của một quốc gia, vùng, địa phương, là một nhân tố quan trọng để thu hút FDI40. Khi nghiên cứu mối quan hệ hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thông qua số liệu của 61 tỉnh thành đã kết luận rằng để thu hút vốn FDI đến địa phương ngày càng nhiều hơn, chính quyền địa phương nên chú trọng vào đầu tư cơ sở hạ tầng, kỹ năng đội ngũ lao động, vốn con người như cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục, kiến thức đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu phát triển tại các địa phương, cải cách thị trường tài chính, nâng cấp công nghệ để có thể thu hút và hấp thụ vốn FDI vào Việt Nam nói chung, cũng như vào các địa phương nói riêng một cách có hiệu quả41.
Ngoài ra, các nhân tố về thị trường như chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), các nhân tố về lao động và cơ sở hạ tầng có tác động đến sự thu hút FDI của các địa phương ở Việt Nam42.