Luận án TS: Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kiểm toán liên tục tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của kiểm toán liên tục tại việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

288
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kiểm toán liên tục tại Việt Nam

Kiểm toán liên tục (KTLT) là một phương pháp kiểm toán hiện đại, cho phép kiểm toán viên (KTV) thực hiện kiểm toán một cách thường xuyên và liên tục. Tại Việt Nam, sự phát triển của KTLT đang trở thành một xu hướng tất yếu trong bối cảnh công nghệ thông tin ngày càng phát triển. Nghiên cứu này sẽ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của KTLT tại Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy ứng dụng KTLT trong các doanh nghiệp.

1.1. Khái niệm và vai trò của kiểm toán liên tục

KTLT được định nghĩa là phương pháp kiểm toán cho phép KTV phát hành báo cáo kiểm toán ngay sau khi giao dịch phát sinh. Điều này giúp nâng cao tính kịp thời và độ tin cậy của thông tin tài chính, từ đó hỗ trợ các quyết định quản trị hiệu quả hơn.

1.2. Lịch sử hình thành kiểm toán liên tục tại Việt Nam

KTLT đã được đưa vào ứng dụng tại Việt Nam từ những năm gần đây, nhờ vào sự phát triển của công nghệ thông tin và nhu cầu ngày càng cao về tính minh bạch trong báo cáo tài chính. Các doanh nghiệp lớn như ngân hàng và công ty niêm yết đã bắt đầu áp dụng KTLT để nâng cao hiệu quả kiểm toán.

II. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của kiểm toán liên tục

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của KTLT tại Việt Nam. Những nhân tố này bao gồm yếu tố công nghệ, yếu tố tổ chức và yếu tố con người. Việc hiểu rõ các nhân tố này sẽ giúp các doanh nghiệp có chiến lược phù hợp để triển khai KTLT.

2.1. Yếu tố công nghệ trong kiểm toán liên tục

Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai KTLT. Các hệ thống thông tin hiện đại như ERP và Big Data giúp thu thập và phân tích dữ liệu một cách nhanh chóng và chính xác, từ đó hỗ trợ KTV trong việc thực hiện kiểm toán.

2.2. Yếu tố tổ chức và quản lý

Sự hỗ trợ từ ban lãnh đạo và các chính sách tổ chức là rất cần thiết để triển khai KTLT. Các doanh nghiệp cần có sự cam kết từ cấp cao để đảm bảo rằng KTLT được thực hiện một cách hiệu quả và bền vững.

2.3. Yếu tố con người và năng lực chuyên môn

Năng lực của KTV là một yếu tố quyết định trong việc thực hiện KTLT. Các KTV cần được đào tạo bài bản về công nghệ và phương pháp kiểm toán mới để có thể đáp ứng được yêu cầu của KTLT.

III. Thách thức trong việc triển khai kiểm toán liên tục tại Việt Nam

Mặc dù KTLT mang lại nhiều lợi ích, nhưng việc triển khai nó tại Việt Nam cũng gặp phải nhiều thách thức. Những thách thức này bao gồm sự thiếu hụt về công nghệ, sự kháng cự từ phía nhân viên và các vấn đề về quy định pháp lý.

3.1. Thiếu hụt công nghệ và hạ tầng

Nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn chưa đầu tư đủ vào công nghệ thông tin cần thiết để triển khai KTLT. Điều này dẫn đến việc không thể thu thập và phân tích dữ liệu một cách hiệu quả.

3.2. Kháng cự từ phía nhân viên

Sự kháng cự từ phía nhân viên có thể cản trở quá trình triển khai KTLT. Nhiều KTV có thể cảm thấy không thoải mái với việc thay đổi phương pháp làm việc truyền thống sang KTLT.

3.3. Vấn đề về quy định pháp lý

Các quy định pháp lý hiện hành có thể chưa hoàn toàn phù hợp với việc triển khai KTLT. Cần có sự điều chỉnh để tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng KTLT trong thực tiễn.

IV. Phương pháp nghiên cứu và giải pháp cho kiểm toán liên tục

Để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến KTLT, phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng đã được áp dụng. Các giải pháp được đề xuất nhằm thúc đẩy sự phát triển của KTLT bao gồm việc nâng cao năng lực cho KTV, cải thiện công nghệ và xây dựng chính sách hỗ trợ.

4.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn sâu các chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán đã giúp xác định các nhân tố chính ảnh hưởng đến KTLT. Các chuyên gia đã chia sẻ những kinh nghiệm và quan điểm của họ về KTLT.

4.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua khảo sát các KTV và doanh nghiệp. Kết quả khảo sát đã cung cấp những dữ liệu quan trọng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến KTLT.

4.3. Giải pháp nâng cao năng lực cho KTV

Để triển khai KTLT hiệu quả, cần có các chương trình đào tạo chuyên sâu cho KTV về công nghệ và phương pháp kiểm toán mới. Điều này sẽ giúp KTV tự tin hơn trong việc áp dụng KTLT.

V. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về kiểm toán liên tục

KTLT đã được áp dụng tại một số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam và đã mang lại những kết quả tích cực. Nghiên cứu cho thấy rằng KTLT không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch mà còn cải thiện hiệu quả quản trị rủi ro.

5.1. Kết quả ứng dụng kiểm toán liên tục tại doanh nghiệp

Nhiều doanh nghiệp đã áp dụng KTLT và ghi nhận sự cải thiện trong việc phát hiện gian lận và sai sót. KTLT giúp các doanh nghiệp nâng cao khả năng kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro.

5.2. Kết quả nghiên cứu định lượng về KTLT

Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy có mối liên hệ tích cực giữa việc áp dụng KTLT và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp áp dụng KTLT có xu hướng đạt được kết quả tài chính tốt hơn.

VI. Kết luận và tương lai của kiểm toán liên tục tại Việt Nam

KTLT đang trở thành một phần quan trọng trong hoạt động kiểm toán tại Việt Nam. Tương lai của KTLT phụ thuộc vào việc các doanh nghiệp có thể vượt qua các thách thức hiện tại và áp dụng công nghệ mới một cách hiệu quả.

6.1. Tương lai của kiểm toán liên tục

Với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, KTLT sẽ ngày càng trở nên phổ biến hơn. Các doanh nghiệp cần chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận xu hướng này.

6.2. Đề xuất cho các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai KTLT, bao gồm đầu tư vào công nghệ và đào tạo nhân lực. Điều này sẽ giúp họ nâng cao hiệu quả kiểm toán và quản trị rủi ro.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của kiểm toán liên tục tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, cho đến nay, đã có khánhiều nghiên cứu trước liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến sự hì nh thành vàphát triển của KTLT. Căn cứ để tác giả tổng quan các nghiên cứu trước làdựa trên mục tiêu nghiên cứu đã được xác lập. Theo đó, các nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hì nh thành vàphát triển của KTLT được phân loại thành hai dòng nghiên cứu chí nh là: (1) dòng nghiên cứu về các nhân tố thúc đẩy bên trong vàbên ngoài doanh nghiệp, và (2) dòng nghiên cứu về các nhân tố trở ngại bên trong vàbên ngoài doanh nghiệp đối với sự hình thành vàphát triển của KTLT. Cơ sở cho sự phân loại này dựa trên hai quan điểm như sau: Thứ nhất, KTLT làsự đổi mới về phương pháp luận (cách tiếp cận) kiểm toán so với phương pháp luận kiểm toán truyền thống (Chan & Vasarhelyi, 2011; Kuenkaikaew & Vasarhelyi, 2013).

Như vậy, theo quan điểm này, các nhân tố ảnh hưởng đối với sự hình thành vàphát triển của KTLT cũng có thể được xác định như làcác nhân tố ảnh hưởng đối với sự hì nh thành vàphát triển của một sự đổi mới nói chung trong tổ chức, bao gồm hai loại: (1) các nhân tố thúc đẩy và(2) các nhân tố trở ngại đối với việc áp dụng sự đổi mới đó (Hadjimanolis, 2003; Marinova & Phillimore, 2003). Các nhân tố cóảnh hưởng thúc đẩy được phân loại dựa theo quan điểm được thừa nhận rộng rãi làmọi sự áp dụng đổi mới đều làkết quả của hai động lực bao gồm sự thúc đẩy của tiến bộ công nghệ (technology-push) vàsự “lôi kéo” của nhu cầu và/hoặc tác động của các cơ quan chức năng (demand/regulations-pull) (Chidamber & Kon, 1994; Marinova & Phillimore, 2003). Thứ hai, các doanh nghiệp ngày nay được xem như làmột “thực thể” trong “hệ sinh thái doanh nghiệp”, trong đó các doanh nghiệp phải luôn đổi mới nhằm thí ch nghi (tồn tại vàphát triển) với sự thay đổi liên tục của chí nh bản thân doanh nghiệp vàcủa “hệ sinh thái doanh nghiệp” đó (Moore, 2006; Deloitte, 2016). Theo quan điểm này, các nhân tố ảnh hưởng đến sự hì nh thành vàphát triển của KTLT với tư cách là sự đổi mới gắn liền với các quátrì nh hoạt động của các doanh nghiệp có thể được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 phân loại thành hai loại, bao gồm: (1) các nhân tố bên trong, và(2) các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.1 Các nghiên cứu về các nhân tố thúc đẩy thực hiện KTLT 1.1 Nhu cầu của NSD trong việc được cung cấp thông tin tin cậy bởi KTLT theo thời gian thực (real-time information) Khánhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng sự ra đời của KTLT làdo nhu cầu của NSD về thông tin liên tục (thông tin được cung cấp hàng tháng, tuần, ngày hoặc theo thời gian thực).

Các nghiên cứu này dựa trên lýthuyết về kinh tế học thông tin cho rằng thông tin đáng tin cậy, đầy đủ, kịp thời sẽ giúp giảm tình trạng bất cân xứng thông tin và do đó sẽ giúp ra quyết định kinh tế phùhợp, giảm thiểu rủi ro (Akerlof, 1970). Năm 1994, AICPA đã thành lập Ủy ban đặc biệt về Các dịch vụ đảm bảo (Special Committee on Assurance Services – Ủy ban Elliott) nhằm nhận diện những nhu cầu của NSD đối với thông tin được cung cấp trong bối cảnh cónhững thay đổi rất nhanh do ảnh hưởng của cạnh tranh vàtiến bộ công nghệ. Ủy ban Elliott đã thực hiện nghiên cứu kéo dài trong hai năm dựa trên phương pháp định tí nh, thông qua phỏng vấn 44 người giữ vai trò là người ra quyết định – những NSD thông tin – cả bên trong vàbên ngoài của các công ty, bao gồm chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc điều hành, giám đốc tài chính, giám đốc CNTT, nhà đầu tư tổ chức, cánhân, cán bộ tín dụng ngân hàng và nhàhoạch định chí nh sách. Kết quả nghiên cứu của Ủy ban Elliott đã xác nhận những kết luận của AICPA (1994), theo đó, bên cạnh thông tin tài chính, NSD thông tin ngày càng quan tâm nhiều hơn vào thông tin phi tài chính để ra quyết định, đồng thời những thông tin đó cần được cung cấp theo thời gian thực (real-time information) thông qua kênh truy cập trực tuyến thay vì dưới nh thức phát hành báo cáo (giấy) định kỳ như kiểm toán truyền thống (AICPA, hì 1997a).

AICPA (1997a) dự báo rằng trong dài hạn, nhu cầu về thông tin theo thời gian thực sẽ dẫn đến thay đổi căn bản trong nhu cầu về các dịch vụ đảm bảo được cung cấp bởi các DNKiT, đó là hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính truyền thống cóthể sẽ được thay đổi thành hoạt động KTLT nhằm cung cấp thông tin tin cậy theo thời gian thực cho NSD bên ngoài công ty. Năm 2008, AICPA tiếp tục công bố một LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 báo cáo nghiên cứu có nhan đề “The Shifting Paradigm in Business Reporting and Assurance” nhằm nhận diện xu hướng phát triển môhì nh báo cáo kinh doanh của các công ty. Luận điểm then chốt của báo cáo nghiên cứu này là, trong tương lai, các thông tin màcông ty cung cấp cho NSD bên ngoài sẽ giảm dần sự khác biệt đáng kể với thông tin được cung cấp cho mục đích quản lý, điều hành trên cả hai phương diện: chủng loại thông tin được cung cấp (tài chí nh vàphi tài chí nh) vàtần suất cung cấp thông tin (định kỳ vàtheo thời gian thực) (AICPA, 2008). Dựa trên sự phát triển của các công ty áp dụng ngôn ngữ XBRL trong việc công bố thông tin tài chí nh nói riêng vàthông tin về hoạt động kinh doanh nói chung, AICPA (2008) dự đoán rằng chỉ trong trung hạn (khoảng 2 đến 5 năm) hoặc dài hạn (trên 5 năm), nghề nghiệp kiểm toán cần phải cókhả năng chuyển sang cung cấp các dịch vụ đảm bảo mới đó là đảm bảo liên tục ở cấp độ dữ liệu đối với các nguồn dữ liệu được tạo lập trong các công ty nhằm mục đích báo cáo.

Hunton, et al. (2007) thực hiện một nghiên cứu thínghiệm 2 (định kỳ cung cấp thông tin hàng tháng và hàng ngày) x 2 (không đảm bảo và có đảm bảo) trên hai trăm mười lăm học viên cao học quản trị kinh doanh tham gia với tư cách là các kiểm toán viên, kiểm soát viên, nhà đầu tư và nhà phân tích tài chính. Mục tiêu nghiên cứu lànhằm đánh giá ảnh hưởng của tần suất cung cấp thông tin đến hiệu quả của việc ra quyết định khi tăng tần suất (từ hàng quýchuyển thành hàng tháng, hàng ngày) cung cấp thông tin (có và không có đảm bảo) cho NSD. Kết quả thínghiệm cho thấy, khi các công ty tăng tần suất cung cấp thông tin kể cả được đảm bảo (bởi KTNB) hay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 không cho NSD thìNSD đều cảm nhận tí ch hợp của thông tin cao hơn.

Tuy nh thí vậy, NSD không cócảm nhận khác biệt rõrệt về sự thay đổi của tí nh hữu ích khi tăng tần suất cung cấp thông tin được đảm bảo độc lập so với thông tin được đảm bảo (kiểm toán) nội bộ. El-Masry & Reck (2008) đã thực hiện nghiên cứu thínghiệm 2 (thương mại điện tử vàkhông cóthương mại điện tử) x 2 (Rủi ro tài chí nh cao vàrủi ro tài chí nh thấp) x 2 (kiểm toán định kỳ và KTLT) x 2 (năm 2002, trước khi SOX cóhiệu lực và năm 2005, sau khi SOX cóhiệu lực) nhằm đánh giá ảnh hưởng KTLT đến nhận thức của nhà đầu tư về rủi ro (công nghệ vàtài chí nh) của công ty trong điều kiện tuân thủ SOX. Thínghiệm được thực hiện tại hai thời điểm: năm 2002 với 56 người tham gia và năm 2005 với 82 người, đối tượng tham gia lànhững học viên thuộc các lớp cao học quản trị kinh doanh cókinh nghiệm thực tiễn nói chung và trong lĩnh vực đầu tư nói riêng theo yêu cầu của thínghiệm. Kết quả của thínghiệm cho thấy các nhà đầu tư có xu hướng đánh giá rủi ro của công ty thấp hơn trong điều kiện công ty áp dụng KTLT sau SOX, và do đó niềm tin của nhà đầu tư cũng gia tăng đáng kể thể hiện trong việc gia tăng quyết định đầu tư mới (mua cổ phiếu) vào công ty.

Tương tự, Farkas & Murthy (2014) thực hiện một thínghiệm 2 (KTLT hoặc GSLT) ×2 (KTV nội bộ hoặc KTV độc lập) theo hai giai đoạn, giai đoạn thứ nhất có 120 người tham gia và giai đoạn thứ hai có 184 người tham gia lànhững nhà đầu tư cánhân (nonprofessional investors) về nhận thức của họ đối với giátrị gia tăng của các hoạt động đảm bảo liên tục được thực hiện bởi KTV (nội bộ và độc lập) vàhoạt động GSLT được thực hiện bởi ban giám đốc công ty. Các kết quả từ cả hai thínghiệm chỉ ra rằng mặc dù các nhà đầu tư cá nhân tin rằng KTLT cóthể làm giảm khả năng sai sót trọng yếu vàphát hiện sớm gian lận, vànhững người tham gia thínghiệm có khuynh hướng tăng đầu tư vào công ty nào màcóáp dụng KTLT, tuy nhiên mức gia tăng là không đáng kể so với trường hợp chỉ kiểm toán báo cáo tài chính định kỳ hàng năm. Kết quả nghiên cứu của Farkas & Murthy (2014) cũng cung cấp một nội dung đáng chú ý là các nhà đầu tư cá nhân cho rằng KTLT nếu được thực hiện, thìchỉ nên bởi KTV nội bộ hơn là bởi KTV độc lập. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Nhu cầu của doanh nghiệp vàKTV về KTLT a) Nhu cầu của doanh nghiệp về KTLT (i) Nhằm đáp ứng các yêu cầu tuân thủ Một dòng nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng KTLT xuất hiện làdo yêu cầu của các doanh nghiệp trong việc giảm nhẹ “gánh nặng” về giám sát việc tuân thủ luật và các quy định.

Daigle & Lampe (2003) đã phân tích các yêu cầu của SOX đối với các công ty niêm yết tại Hoa Kỳ vàchỉ ra rằng, các yêu cầu (được đề cập chủ yếu trong các đoạn 302 và404) sẽ thúc đẩy nhu cầu của các công ty niêm yết đối với hoạt động KTLT. Cũng với quan điểm như vậy, Means & Warren (2005) nhận định rằng do trách nhiệm dân sự vàhình sự khánặng đối những người quản lý, điều hành các công ty niêm yết trong trường hợp họ không tuân thủ SOX. Từ đó đã thúc đẩy các công ty ưu tiên cải thiện các quátrình xử lýtrong nội bộ, chuẩn hóa các thủ tục kiểm soát và hướng đến sử dụng công nghệ để cóthể giám sát kịp thời hơn các hoạt động của công ty.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ