Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi tại các Ngân hàng thươngng mại và tổng quan các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của Ngân hàng Thương mại Việt Nam Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 5: Kết luận và giải pháp nâng cao khả năng sinh lợi tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Tổng quan về khả năng sinh lợi của ngân hàng 2.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại là loại hình doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực tiền tệ, ra đời với vai trò là trung gian tài chính, biến những nguồn vốn nhỏ, nhàn rỗi trong nền kinh tế thành nguồn vốn tín dụng để cho vay đáp ứng nguồn vốn kinh doanh đầu tư cho các ngành kinh tế, tiêu dùng trong xã hội nhằm phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Cũng như các doanh nghiệp khác, để kinh doanh, ngân hàng thương mại cần có nguồn vốn (bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn huy động từ nền kinh tế, vốn đi vay.), và phải tự chủ về tài chính (nghĩa là cân đối giữa thu nhập và chi phí) để hoạt động kinh doanh đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận.
Theo Harward và Upton (1961, trang 147) phát biểu rằng: "khả năng sinh lợi là khả năng của một sự đầu tư nhất định có thể tạo ra lợi nhuận". "Khả năng sinh lợi cho thấy tính hiệu quả của việc quản lý các nguồn lực sẵn có trên thị thường để có thẻ tạo ra lợi nhuận", đây là quan điểm được trình bày bởi Amico và cộng sự (2010). Tuy nhiên, một ngân hàng có khả năng sinh lợi cao chưa hẳn là tốt, bởi vì để có mức khả năng sinh lợi như vậy có thể ngân hàng phải chấp nhận một cơ cấu tài sản có độ rủi ro cao. Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010, ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng như để đánh giá sự phát triển bền vững của một ngân hàng. Hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lợi của ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ với khả năng thanh toán và chỉ ra triển vọng phát triển trong tương lai của ngân hàng đó. Những ngân hàng hoạt động không hiệu quả sẽ gây ra LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 những thua lỗ và nắm giữ những tài sản thanh khoản kém, cuối cùng sẽ mất khả năng thanh toán. Trong môi trường cạnh tranh quốc tế, tăng cường hiệu quả kinh doanh, nâng cao khả năng sinh lợi của mỗi ngân hàng là cách tốt nhất để giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển bền vững.
Hoạt động ngân hàng bao gồm một số hoạt động chính như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Vì nguồn vốn cho hoạt động của ngân hàng là vốn huy động từ bên ngoài và vốn tự có lại chiếm một tỷ trọng nhất định trong tổng nguồn vốn kinh nên cần thiết phải tính toán, cân đối để đảm bảo thu nhập từ những hoạt động kinh doanh, đầu tư, cấp tín dụng phải đủ bù đắp cho chi phí huy động, các chi phí khác để đảm bảo được mục tiêu lợi nhuận cho ngân hàng.2 Xác định khả năng sinh lợi của ngân hàng Về mặt lý thuyết, khả năng sinh lợi thông thường được đo lường bằng các tỷ lệ sau: 2.1 Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (Return on Asset - ROA) Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng tạo ra lợi nhuận trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng, ROA cho ta biết hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để kiếm lợi. Hay nói cách khác, ROA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng.2 Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity - ROE) ROE được tính bằng cách lấy thu nhập sau thuế chia cho tổng vốn chủ sở hữu bình quân. Về mặt quản trị, tỷ lệ ROE phản ánh khả năng, mức độ tạo ra lợi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nhuận ròng tạo ra trên vốn chủ sở hữu, đồng thời là chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi của một tổ chức đối với nhà đầu tư.3 Tỷ lệ thu nhập cận biên (Net interest Margin - NIM) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là chênh lệch giữa thu nhập giữa thu nhập lãi và chi phí lãi, tất cả chia cho tổng tài sản có sinh lãi.
Hệ số NIM được các ngân hàng quan tâm vì nó giúp cho ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lợi thông qua kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lợi và tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Hệ số NIM được tính bằng công thức sau: 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖 − 𝑐ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑙ã𝑖 𝑁𝐼𝑀 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó sinh 𝑙ờ𝑖 Trong đó: - Thu nhập lãi bao gồm các khoản thu nhập từ hoạt động cho vay và đầu tư chứng khoán. Chi phí lãi là các chi phí huy động vốn, chi phí vay. - Tổng tài sản có sinh lợi = tổng tài sản - tiền mặt và các tài sản cố định 2.2 Các mô hình phân tích khả năng sinh lợi Để đánh giá tình hình hoạt động của ngân hàng, người ta thường sử dụng một số mô hình thể hiện mối liên hệ giữa các tỷ lệ sinh lợi.
Theo tài liệu giáo trình về Quảng trị Ngân hàng Thương mại (Trần Huy Hoàng, 2011), chỉ ra một số mô hình phân tích khả năng sinh lợi phổ biến như sau: - Mô hình đánh đổi lợi nhuận - rủi ro: Mô hình được thể hiện qua công 𝑡ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 thức: 𝑅𝑂𝐸 = 𝑅𝑂𝐴 × 𝑡ổ𝑛𝑔 𝑣ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Mối quan hệ trên cho thấy ROE phụ thuộc vào khả năng sinh lợi của tổng tài sản và cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng. Khi hiệu quả sinh lợi của tài sản càng cao và tỷ trọng vốn chủ sở hữu càng thấp so với tổng tài sản thì khả năng sinh lợi ROE càng cao. Như vậy, việc sử dụng đòn bẩy tài chính (sử dụng nhiều nợ, ít vốn chủ sở hữu) có thể khuếch đại giá gị ROE. Tuy nhiên, điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng phải chịu nhiều rủi ro do áp lực trả nợ nhiều hơn.
- Mô hình phân chia tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu: mô hình phản ánh tác động gộp của các mặt khác nhau trong hoạt động của ngân hàng, bao gồm tỷ lệ sinh lợi hoạt động, tỷ lệ hiệu quả sử dụng tài sản và tỷ trọng vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ sinh lợi hoạt động phản ánh hiệu quả việc kiểm soát chi phí và tối đa hóa các nguồn thu của ngân hàng. Hiệu quả sử dụng tài sản phản ánh các chính sách quản lý danh mục đầu tư và cấu trúc tài sản. Tỷ trọng vốn chủ sở hữu phản ánh chính sách đòn bẩy tài chính.
Khi một trong các tỷ số này giảm, đồng nghĩa khả năng sinh lợi sẽ giảm theo. - Mô hình tách các chỉ số phân tích lợi nhuận trên tài sản: ROA trong mô hình này được cấu thành từ tổng thu nhập lãi cận biên, thu nhập ngoài lãi cận biên và loại trừ phần tổn thất từ hoạt động tín dụng, kinh doanh, đầu tư khác. Việc tách riêng các thành phần như vậy cho ta thấy khả năng sinh lợi của ngân hàng có thể phụ thuộc vào các yếu tố như: đòn bẩy tài chính, kiểm soát chi phí hoạt động để tăng nguồn thu, đa dạng hóa thu nhập (kể cả thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi), các danh mục đầu tư phải được xem xét cẩn thận để đảm bảo thanh khoản, đồng thời tạo ra khả năng sinh lợi cao nhất từ tổng tài sản, kiểm soát chặt chẽ rủi ro để hạn chế thua lỗ từ các hoạt động.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi 2.1 Các nhân tố bên trong: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Từ lý thuyết những mô hình phân tích khả năng sinh lợi được nêu trong phần trên, ta có thể xét một số nhân tố bên trong, nhân tố thuộc về quản trị và chiến lược của ngân hàng ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi như sau: 2.1 Quy mô ngân hàng Ảnh hưởng của quy mô lên khả năng sinh lợi được xem là phi tuyến tính và thường được đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản. Lý do là quy mô ngân hàng được sử dụng để nắm bắt lợi thế kinh tế từ quy mô đối với ngân hàng.
Với lợi thế này, ngân hàng có quy mô tài sản lớn sẽ có nhiều cơ hội trong quá trình phát triển sản phẩm dịch vụ, đa dạng hóa các khoản mục đầu tư, góp phần tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu khác lại cho rằng đường chi phí trung bình của ngân hàng có hình chữ U; nghĩa là khả năng sinh lợi lúc đầu sẽ tăng cùng quy mô nhưng sau đó sẽ giảm do chi phí dài hạn tăng khi quy mô tiếp tục tăng (Athanasoglou, 2008). Với một quy mô tài sản lớn sẽ đòi hỏi công tác quản trị tốt để giải quyết một các tốt nhất mối quan hệ giữa thanh khoản và khả năng sinh lợi trong một khoản mục tài sản. Vì vậy, quy mô ngân hàng có thể làm tăng hoặc giảm lợi nhuận ngân hàng.2 Vốn chủ sở hữu Về mặt kinh tế, vốn chủ sở hữu bao gồm vốn riêng do các chủ sở hữu đóng góp ban đầu và phần vốn được hình thành trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại.
Vốn chủ sở hữu là đối tượng mà các cơ quan quản lý ngân hàng thường căn cứ vào đó để xác định các tỷ lệ an toàn và ban hành những quy định nhằm điều chỉnh hoạt động của ngân hàng, là tiêu chuẩn để xác định mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng, giúp cho các nhà quản trị quản lý ổn định và tăng trưởng vốn chủ sở hửu một cách hợp lý nhằm nâng cao sức đề kháng cho ngân hàng trước các rủi ro và giúp tăng khả năng sinh lợi một cách bền vững.