Chương 1 : Tổng quan về nợ xấu và các yếu tố tác động đến nợ xấu trong các Ngân hàng thương mại. Chương 2 : Thực trạng nợ xấu và mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến nợ xấu trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay. Chương 3 : Kết quả nghiên cứu – Gợi ý chính sách cho việc quản lý kiểm soát nợ xấu trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Kết quả của đề tài cho biết khả năng giải thích của các yếu tố trong mô hình lên tỷ lệ nợ xấu.
Đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý Ngân hàng lƣợng hóa mức độ rủi ro và chiều hƣớng tác động từ đó có những biện pháp trong kiểm soát nợ xấu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Trong chƣơng này, luận văn thực hiện một số nội dung liên quan đến các vấn đề tổng quan cơ bản về nợ xấu nhƣ các khái niệm về nợ xấu, phân loại nợ. Bên cạnh đó luận văn đƣa ra các tìm hiểu lý thuyết về nguyên nhân dẫn đến nợ xấu ở mức độ khái quát chung nhất, bao gồm ba nhóm nguyên nhân: Nguyên nhân khách quan, nguyên nhân từ phía Ngân hàng, nguyên nhân từ phía khách hàng vay. Trên cơ sở đó bài luận văn dẫn dắt đến những nghiên cứu thực nghiệm ngoài nƣớc về các nguyên nhân khách quan và nguyên nhân xuất phát bản thân các NHTM, cụ thể là các nghiên cứu định lƣợng về tƣơng quan của các yếu tố tác động đến nợ xấu tại Ngân hàng thƣơng mại.
Khái niệm về nợ xấu và phân loại nợ: 1. Khái niệm về nợ xấu: Xét về thuật ngữ “nợ xấu” sử dụng trên thế giới, tác giả Trần Huy Hoàng (2013) phát biểu rằng các nhà hoạch định chính sách ở các Ngân hàng trung ƣơng, các tổ chức tài chính quốc tế nhƣ IMF, Ngân hàng thế giới và các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng thƣờng sử dụng thuật ngữ “non-performing loans – NPLs”, trong khi đó các tổ chức ban hành các chuẩn mực kế toán hay sử dụng thuật ngữ “non-accrual loans” hay “impaired loans”. Trong các công trình nghiên cứu về các yếu tố tƣơng quan đến nợ xấu trong hệ thống Ngân hàng mà tác giả đã tổng hợp trong bài luận văn này đều sử dụng thuật ngữ NPLs. Một số định nghĩa nợ xấu theo quan điểm quốc tế và tại Việt Nam nhƣ sau: Khái niệm nợ xấu của nhóm chuyên gia tư vấn AEG của Liên Hợp Quốc: Nhóm chuyên gia tƣ vấn AEG của Liên Hợp Quốc cho rằng định nghĩa về nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên đƣợc sử dụng nhƣ hƣớng dẫn cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 các ngân hàng.
AEG thống nhất định nghĩa nợ xấu nhƣ sau: Là những khoản nợ khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chƣa trả từ 90 ngày trở lên đã đƣợc nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dƣới 90 ngày nhƣng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ đƣợc thanh toán đầy đủ. Nói cách khác, nợ xấu đƣợc xác định trên 2 yếu tố: quá hạn trên 90 ngày; khả năng trả nợ bị nghi ngờ (Trung tâm thông tin dữ liệu, số 1, 2013). Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS): BCBS không đƣa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hƣớng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả (a default) khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: Ngân hàng thấy ngƣời vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chƣa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; ngƣời vay đã quá hạn trả nợ 90 ngày.
Dựa trên hƣớng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu ngƣời đi vay không trả đƣợc nợ (Đinh Thị Thanh Vân, 2012). Khái niệm nợ xấu theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS): Chuẩn mực Kế toán quốc tế về ngân hàng sử dụng thuật ngữ “impaired” (các khoản nợ bị giảm giá trị) thay vì sử dụng thuật ngữ “nonperforming” (nợ xấu). Về cơ bản chuẩn mực kế toán quốc tế chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay, tức chủ yếu dựa vào định tính cho dù khoản vay đã quá hạn chƣa tới 90 ngày hoặc chƣa quá hạn. Phƣơng pháp đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thƣờng là phƣơng pháp phân tích dòng tiền tƣơng lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng.
Hệ thống này đƣợc coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhƣng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nó vẫn đang đƣợc Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế chỉnh sửa lại (Đinh Thị Thanh Vân, 2012). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Khái niệm nợ xấu theo tổ chức tiền tệ thế giới (IMF): Định nghĩa nợ xấu theo IMF đƣợc trích trong Trung tâm thông tin dữ liệu (số 1, năm 2013) nhƣ sau: “một khoản vay đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã đƣợc vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dƣới 90 ngày nhƣng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy ngƣời vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ngƣời vay phá sản). Sau khi khoản vay đƣợc xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên đƣợc xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi đƣợc lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi đƣợc khoản vay thay thế”.
Từ những định nghĩa trên có thấy đƣợc sự tƣơng đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới. Theo đó, một khoản nợ đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn 90 ngày hoặc hơn 90 ngày khi xét về mặt định lƣợng và/ hoặc có dấu hiệu mất mát hoặc khả năng không trả đƣợc nợ trong tƣơng lai khi xét về mặt định tính. Khái niệm nợ xấu tại Việt Nam: Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005: Tại Việt Nam, khái niệm “nợ xấu” đƣợc nêu tại điểm 6, điều 2, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng. Theo đó, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 bao gồm nợ dƣới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn quy định tại Điều 6 hoặc điều 7 của Quyết định 493 và Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của NHNN về sửa đổi bổ sung một số điều trong quyết định 493.
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dƣ nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lƣợng tín dụng của tổ chức tín dụng. (Khoản 6, Điều 2) Về cơ bản, nợ xấu theo Điều 6 là những khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên; nợ đã cơ cấu lại và khách hàng chƣa trả đủ lãi và gốc. Tại Điều 7, các khoản nợ đƣợc phân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 loại theo phƣơng pháp định tính và nợ xấu bao gồm các khoản nợ dƣới tiêu chuẩn và đƣợc đánh giá là không có khả năng thu hồi, có khả năng mất vốn. Phạm vi nợ phân loại: Theo Quyết định 493 và Quyết định 18, nợ đƣợc phân loại chỉ bao gồm hoạt động tín dụng thuần túy (Các khoản cho vay, ứng trƣớc, thấu chi và cho thuê tài chính; Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thƣơng phiếu và giấy tờ có giá khác; Các khoản bao thanh toán).
Theo thông tƣ 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 ban hành thay thế quyết định 493 và quyết định 18 đã nêu trên, hiệu lực thi hành từ ngày 1/6/2014: Quy định tại điểm 8 điều 3 thông tƣ 02, nợ xấu (NPLs) vẫn là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Thông tƣ 02 mới đƣợc ban hành so với Quyết định 493 có nhiều điểm tiến bộ. Trong đó có 2 điểm thay đổi lớn là về phạm vi xác định, phân loại nợ và phƣơng pháp xác định, phân loại nợ. Về phạm vi xác định, so với hiện nay thì quy định mới đã bổ sung thêm phần đầu tƣ vào trái phiếu doanh nghiệp, cho vay liên Ngân hàng, ủy thác cấp tín dụng, các khoản cấp tín dụng dƣới hình thức phát hành thẻ.
Về mặt phƣơng pháp phân loại nợ, với thông tƣ 02, các TCTD phải sử dụng đồng thời, thống nhất cả định tính và định lƣợng. Nhƣ vậy có thể thống nhất cách phân loại nợ giữa các TCTD. Khi xem xét định nghĩa nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam và thông lệ quốc tế có thể thấy mặt định lƣợng thời gian trả nợ quá hạn từ 91 ngày trong định nghĩa nợ xấu của Việt Nam và thông lệ quốc tế là khá tƣơng đồng. Dù phân loại theo phƣơng pháp định tính hay định lƣợng các khoản nợ từ nhóm 3 tới nhóm 5 đƣợc xếp hạng vào danh mục nợ xấu của ngân hàng.
Phân loại nợ: 1. Phân loại nợ theo quan điểm quốc tế: Theo nghiên cứu của tác giả Đinh Thị Thanh Vân (2012), phân loại nợ xấu đƣợc hiểu là quá trình m à các ngân hàng xem xét các danh mục cho vay và đƣa khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa trên m ứ c đ ộ rủi ro về khả năng hoàn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 trả hay xác suất xảy ra thất thoát khi cho vay. Việc thƣờng xuyên xem xét và phân loại nợ giúp các ngân hàng có thể kiểm soát chất lƣợng danh mục cho vay và trong trƣờng hợp cần thiết, Ngân hàng có thể kịp thời có các biện pháp xử lý nhằm giảm mức tối thiểu thất thoát từ việc không thu hồi đƣợc nợ, đáp ứng mục tiêu giải quyết các vấn đề phát sinh làm giảm chất lƣợng tín dụng tại danh mục cho vay. Thông thƣờng, các ngân hàng sử dụng hệ thống phân loại nội bộ, hệ thống phân loại quy định bởi các nhà quản lý Ngân hàng và chủ yếu phục vụ mục tiêu báo cáo, so sánh và giám sát đối với các cơ quan thanh tra giám sát.