CHƯƠNG 1: Formatted: Title, Left KHÁI LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.1 Vai trò và đặc điểm của vốn đầu tư cho giáo dục đại học Formatted: Heading 1 1.1 Vai trò của vốn đầu tư cho giáo dục đại học Cho đến nay, đầu tư là một khái niệm khá phổ thông, được nhiều người biết đến và sử dụng trong đời sống, nhất là đối với những người hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thuật ngữ này lại được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Một khái niệm cơ bản được nhiều người thừa nhận là: “Đầu tư là việc sử dụng một lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai, … vào một hoạt động kinh tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội cho xã hội để thu lợi nhuận”. Người bỏ ra tài sản được gọi là nhà đầu tư hoặc chủ đầu tư, đó có thể là các tổ chức, cá nhân (đầu tư tư nhân) và cũng có thể là nhà nước (đầu tư Chính phủ).
Một hoạt động được gọi là đầu tư cần thỏa mãn hai đặc trưng quan trọng là: tính sinh lời và tính rủi ro. Tính sinh lời đơn giản được hiểu là lợi nhuận mà nhà đầu tư thu được từ các khoản đầu tư. Tính rủi ro là khả năng nhà đầu tư sẽ bị thiệt hại, mất mát nguồn vốn đầu tư hoặc gặp phải những bất trắc không lường trước được1. Trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, GDĐH cũng là một lĩnh vực hiện đang được quan tâm đầu tư.
Đầu tư cho GDĐH được hiểu là căn cứ vào nhu cầu phát triển sự nghiệp GDĐH và nhân lực, vật lực, tài lực xã hội để đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ, nắm vững kiến thức chuyên môn, kĩ năng thực hành cơ bản về một ngành nghề, có khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thông thường. Tính chất đầu tư cho GDĐH, trước đây trong cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mọi người thường cho rằng đầu tư cho GDĐH là đầu tư mang tính 1 Phùng Xuân Nhạ (2013), Sách chuyên khảo, Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: Formatted: Line spacing: 1.5 lines Lý luận và thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. Formatted: English (Australia) 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phúc lợi xã hội. Từ những năm đổi mới, nền kinh tế nước ta chuyến sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sự nhận thức này đã có sự thay đổi trong toàn xã hội cũng như các nhà quản lý giáo dục.
Đầu tư cho GDĐH được phân tích đánh giá từ góc độ sản xuất và tiêu dùng, các khái niệm về doanh thu, chi phí cho đơn vị đào tạo đã được tính đến. Vậy thu hút nguồn vốn đầu tư cho GDĐH: Là tập hợp cơ chế, chính sách, giải pháp, hoạt động nhằm tập trung được nguồn vốn cho sự phát triển GDĐH. Vốn đầu tư cho GDĐH có những vai trò cụ thể sau: - Xây dựng, hiện đại hóa cơ sở vật chất cho các cơ sở GDĐH, bao gồm hệ thống giảng đường, phòng làm việc, trang thiết bị giảng dạy, nhà ở cho sinh viên. - Đổi mới chương trình, giáo trình; xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
- Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo, bao gồm đội ngũ cán bộ quản lý quản lý giáo dục, đội ngũ giảng viên và nhân viên phục vụ. - Hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu khoa học… Đây là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển các trường đại học nói riêng, nền GDĐH nói chung. Với những vai trò nêu trên, vốn đầu tư trở thành nguồn lực quan trọng để phát triển GDĐH. Nói cách khác, không có vốn hoặc không đủ vốn, không thể phát triển GDĐH.
Đặc điểm của vốn đầu tư cho giáo dục đại học Formatted: Heading 2 Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư. Là việc chi dùng trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng…) vì mục tiêu phát 2 Mục đích của việc thu hút đầu tư cho giáo dục là tập trung cho phát triển giáo dục, xem thêm tại: Phạm Phụ (2012): Đầu tư và chia sẻ chi phí trong giáo dục đại học Việt Nam. Báo cáo thường niên về giáo dục, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
Formatted: Normal 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đầu tư phát triển đòi hỏi nhiều loại nguồn lực. Với xu hướng phát triển hiện tại, nguồn lực đầu tư có thể đến từ nhà nước, cũng có thể do tổ chức cá nhân trong và ngoài nước bỏ ra. Phạm vi đầu tư của các nhà đầu tư ngoài nhà nước mở rộng theo lộ trình xã hội hóa giáo dục.
Hoạt động đầu tư có hiệu quả cao là kết quả của việc huy động tích cực nguồn lực đầu tư trong xã hội. Đa số đầu tư nguồn lực nhằm mục đích sinh lợi, cũng có chủ thể đầu tư vì tâm huyết với sự học, vì trách nhiệm với xã hội (nhiều cá nhân tình nguyện hiến đất đai để xây dựng trường học). Đối tượng của đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ vốn thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Theo quan điểm phân công lao động xã hội thì đây là đầu tư theo ngành.
Dưới góc độ đối tượng tính chất đầu tư thì đầu tư trong lĩnh vực giáo dục nổi trội tính chất phi lợi nhuận (mục tiêu lợi nhuận không phải là tuyệt đối). Trên góc độ xem xét sự quan trọng, đầu tư trong lĩnh vực giáo dục có đối tượng được khuyến khích đầu tư. Kết quả của đầu tư cho giáo dục là sự tăng thêm về tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học kĩ thuật…), tài sản vật chất (trường học, trang thiết bị …) và tài sản vô hình (phát minh, sáng chế, công trình khoa học …). Các kết quả của hoạt động đầu tư cho giáo dục góp phần làm tăng thêm những giá trị và chất lượng cho xã hội.
Đặc thù của kết quả đầu tư cho giáo dục so với các hoạt động đầu tư khác chính là tương quan so sánh giữa kết quả kinh tế xã hội thu được với chi phí để tạo ra kết quả đó. Kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển cần được xem xét cả trên phương diện đối với chủ đầu tư và xã hội, đảm bảo hài hòa giữa các loại lợi ích, khuyến khích vai trò chủ động của chủ đầu tư, vai trò quản lí, kiểm tra giám sát của cơ quan nhà nước các cấp. Đầu tư trong lĩnh vực giáo dục tuy không trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động như các hoạt động đầu tư khác nhưng lại rất quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống và vì mục tiêu phát triên. 3 Nguyễn Bạch Nguyệt, Từ Quang Phương (2005) : Giáo trình Kinh tế đầu tư, Trường đại học Kinh tế quốc dân, NXB Thống Kê, Hà Nội.
Formatted: List Paragraph, Justified, Line spacing: 1.5 lines 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mục đích của hoạt động đầu tư cho giáo dục là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích của quốc gia cộng đồng và của nhà đầu tư. Đầu tư cho lĩnh vực giáo dục thường được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định. Xác định rõ chủ đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lí đầu tư nói chung và vốn đầu tư nói riêng. Chủ đầu tư là cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội, cộng đồng dân cư, nhà đầu tư nước ngoài … Hoạt động đầu tư trong lĩnh vực giáo dục là một quá trình, diễn ra trong thời kì dài và tồn tại vấn đề “độ trễ thời gian”.
“Độ trễ thời gian” là sự trùng hợp giữa thời gian đầu tư với thời gian vận hành các kết quả đầu tư. Đầu tư hiện tại nhưng kết quả đầu tư thường thu được trong tương lai xa. Nội dung đầu tư trong lĩnh vực giáo dục được quy định trong pháp luật về đầu tư và pháp luật về giáo dục. Bao gồm hình thức đầu tư, điều kiện đầu tư, quyền và nghĩa vụ nhà đầu tư; quy trình, thủ tục và triển khai dự án đầu tư; đảm bảo khuyến khích và ưu đãi đầu tư; quản lí nhà nước về đầu tư.
Đầu tư cho giáo dục là hoạt động đầu tư đặc thù. Thứ nhất, giáo dục là loại hình dịch vụ đặc biệt. Thực tế còn nhiều tranh luận rằng giáo dục có phải là ngành dịch vụ hay không bởi nhiều ý kiến cho rằng gắn giáo dục với “dịch vụ” với “kinh tế thị trường”, với “thương mại hóa” là làm mất đi giá trị cao quý của ngành, là một hiện tượng tiêu cực… Lâu nay, người ta vẫn coi giáo dục là sự nghiệp công ích, là phúc lợi xã hội cần phải được bao cấp hoàn tòa; đối với các nho sĩ phong kiến thì giáo dục là một hình thái hoạt động thanh cao, thuần túy trau dồi hiểu biết và đức hạnh, không liên quan gì đến những sinh hoạt vật chất như sản xuất hàng hóa, tính toán giá cả, lưu thông trao đổi… Thời đại của nền văn minh trí tuệ đã bật sáng những tín hiệu mới, buộc chúng ta cần phải chuyển đổi quan niệm. Giáo dục không thể là một ốc đảo, đứng ngoài nền kinh tế thị trường, đứng ngoài những yêu cầu phát triển của xã hội; sản phẩm của giáo dục cũng coi là hàng hóa, dù là một thứ hàng hóa đặc biệt.
Hoạt động của giáo dục phải phù hợp với kế hoạch tổng thể của đất nước, chịu sự chi phối trực tiếp những yêu cầu của kinh tế, xã hội. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong gần thập kỷ qua, trong nhiều diễn đàn ở hội thảo, trên báo chí, phát thanh truyền hình trong nước cũng như ngoài nước, đề tài “có hay không yếu tố thương mại trong hoạt động giáo dục” đã được đề cập đến khá sôi nổi. Ý kiến khác nhau diễn ra kéo dài, có khi tranh luận gay gắt. Nhưng thực tiễn đã nhanh chóng trở thành người trọng tài công minh; sự phát triển của nền kinh tế mới với cuộc hành trình toàn cầu hóa của nhân loại đã cho phép chúng ta nhận thức lại nhiều điều có ý nghĩa.