phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn, và tổng quan nghiên cứu về quản lý đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài - Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu - Chƣơng 3: Thực trạng quản lý hoạt động đầu tƣ trực tiếp từ Trung Quốc. 8 - Chƣơng 4: Quan điểm và khuyến nghị một số giải pháp cơ bản nhằm tăng hiệu quả quản lý đầu tƣ trực tiếp từ Trung Quốc tại Việt Nam đến năm 2020. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN, VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Cơ sở lý luận về quản lý đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1.
Các khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài - Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo khái niệm của Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 1987: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là việc tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền nƣớc ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào đƣợc Chính Phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp Liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài theo quy định của luật này. Theo quan điểm về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của Việt Nam theo quy định tại khoản 1 điều 2 , Luật đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2000 “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền nƣớc ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tƣ theo quy định của luật này”. Theo quan điểm của Hoa Kỳ - một trong những nƣớc tiến hành đầu tƣ và tiếp nhận đầu tƣ lớn nhất thế giới cho rằng “ Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là bất kỳ dòng vốn nào thuộc sở hữu đa phần của công dân hoặc công ty của nƣớc đi đầu tƣ có đƣợc từ việc cho vay hoặc dùng để mua sở hữu của doanh nghiệp nƣớc ngoài Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đƣợc xem nhƣ là một khoản đầu tƣ với những quan hệ, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tƣ trực tiếp) thu đƣợc lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác.Mục đích của nhà đầu tƣ trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hƣởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác đó. Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhƣ sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào vào quốc gia đó để được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình.
10 - Khái niệm mô hình quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài “Mô hình quản lý đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức quản lý đầu tƣ theo tiêu chí, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho đầu tƣ nƣớc ngoài trong điều kiện hiện nay, là kiểu quản lý một thành phần trong nền kinh tế đƣợc xây dựng so với mô hình kinh tế cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt” Quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ nƣớc ngoài là hình thức quản lý của các cơ quan nhà nƣớc để cộng đồng nhà đầu tƣ nƣớc ngoài ở Việt Nam theo các quy định, chính sách và pháp luật của Việt Nam; phát triển đầu tƣ nƣớc ngoài theo định hƣớng và nhu cầu của nền kinh tế; đóng góp vào giá trị sản xuất của nền kinh tế. Phân loại đầu tư nước ngoài + Phân loại theo bản chất đầu tƣ: Đầu tƣ phƣơng tiện hoạt động hay đầu tƣ mới; Mua lại và sáp nhập (M&A) + Phân theo tính chất dòng vốn: Vốn chứng khoán; Vốn tái đầu tƣ + Phân theo động cơ của nhà đầu tƣ: Đầu tƣ tìm kiếm thị trƣờng; Đầu tƣ tìm kiếm hiệu quả ; Đầu tƣ tìm kiếm nguồn lực 1. Các lý thuyết chung về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài Quản lý là một chức năng xã hội bắt nguồn từ tính xã hội của lao động. Sự phát triển không ngừng sản xuất xã hội về quy mô trình độ khoa học và công nghê, về các quan hệ phân công và hợp tác trên phạm vi quốc tế, sự phát triển rất cao của nền kinh tế thị trƣờng đƣợc quốc tế hóa nhanh chong đã thúc đẩy mạnh mẽ xu hƣớng nâng cao vai trò quản lý với tƣ cách là một chức năng xã hội đặc biệt.
Nghiên cứu về quản lý nhà nƣớc đối với các hoạt động đầu tƣ trực tiếp, luận văn này chỉ giới hạn ở khía cạnh quản lý nhà nƣớc theo nghĩa hẹp, đó là hoạt động chấp hành và điều hành do hệ thống cơ quan hành chính nhà nƣớc thực hiện. Do đó, có thể đƣa ra khái niệm : Quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ nƣớc ngoài là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính Nhà nƣớc Việt Nam đƣợc tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật về đầu tƣ nƣớc ngoài nhằm khuyến khích và bảo đảm cho 11 các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài tiến hành hoạt động động đầu tƣ tại Việt Nam trên cơ sở tuân thủ pháp luật và hai bên cùng có lợi. Hình thức chấp hành của hoạt động này thể hiện sự thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Hình thức điều hành là sự chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tƣợng bị quản lý-nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, các bên hợp danh và doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
Một đặc trƣng của hoạt động điều hành là ra các văn bản dƣới luật mang tính chất pháp lý-quyền lực đƣợc đảm bảo bởi khả năng áp dụng cƣỡng chế. Quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài có những đặc trƣng chủ yếu của hoạt động quản lý nhà nƣớc đó là : hoạt động mang tính tổ chức là chủ yếu. Hoạt động bảo vệ pháp luật-tài phán trong quản lý nhà nƣớc là cần thiết và quan trọng nhƣng chỉ chiếm phần nhỏ. Quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài còn mang tính dƣới luật.
Tính dƣới luật thể hiện ở chỗ bản thân hoạt động quản lý là hoạt động chấp hành và điều hành trên cơ sở các quy định của Luật đầu tƣ và các đạo luật liên quan. Quyết định đƣợc ban hành của các cơ quan quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ nƣớc ngoài phải phù hợp với các quyết định của luật và các văn bản của cơ quan nhà nƣớc cấp trên. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài có mối quan hệ với chính trị nên quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài cũng mang tính chính trị. Hoạt động quản lý kinh tế của nhà nƣớc nói chung-trong đó có lĩnh vực đầu tƣ trực tiếp-là một trong những kênh thực hiện quyền lực nhà nƣớc.
Mỗi giai đoạn phát triển, tùy theo những nhiệm vụ kinh tế-xã hội đòi hỏi phải thực hiện mà nội hàm quản lý nhà nƣớc về kinh tế đã có sự thay đổi. Điều này thể hiện rõ trong các học thuyết về kinh tế khi đi tìm tòi vai trò của nhà nƣớc với nền kinh tế. Quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là bộ phận của quản lý nhà nƣớc về kinh tế. Nó chịu sự tác động và chi phối của cơ chế quản lý và phƣơng pháp quản lý.
Một khi nhà nƣớc trực tiếp tiến hành quản lý nền sản xuất xã hội, điều tiết nền kinh tế bằng các công cụ quản lý vĩ mô thì việc điều chỉnh các quan hệ đầu tƣ trực tiếp, hƣớng các quan hệ này phát triển này trong khuôn khổ luật định là điều hết sức dễ hiểu. 12 Hoạt động quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đƣợc hình thành và từng bƣớc hoàn thiện gắn liền với phƣơng hƣớng đổi mới vai trò kinh tế của nhà nƣớc gắn liền với thực hiện cải cách lớn về tổ chức và hoạt động của quản lý nhà nƣớc. Song song với những quy định cởi mở nhằm thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài thì cần thiết phải tăng cƣờng hoạt động quản lý nhà nƣớc để đảm bảo hiệu quả và mực đích của đầu tƣ trực tiếp đối với nền kinh tế Việt Nam. Đổi mới và thực hiện cơ chế quản lý về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, nhà nƣớc thực hiện sự tác động mang tính quyền lực vào các quan hệ đầu tƣ trực tiếp theo những hình thức và phƣơng pháp nhất định để đạt đƣợc mục tiêu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra.
Vai trò của quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong lĩnh vực đầu tƣ nƣớc ngoài, quản lý nhà nƣớc mang nhiều vai trò khác nhau, vai trò này vừa có mối liên hệ chặt chẽ, vừa có tính độc lập tƣơng đối do quá trình hợp tác, phân công và chuyên môn hóa cao. Vai trò của quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ nƣớc ngoài phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu và giác độ tiếp cận vấn đề. Ở đây, có thể phân loại các vai trò cơ bản quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ trực tiếp là : - Vai trò dự báo : là hoạt động dựa trên các cơ sở các thông tin chính xác và kết luận khoa học, nghiên cứu và dự báo các quá trình, đặc điểm, xu hƣớng phát triển của đầu tƣ trực tiếp. Tính chất và động thái của tình hình đầu tƣ trực tiếp diễn ra hết sức phức tạp, theo nhiều chu trình.
Dự báo là điều kiện không thể thiếu đƣợc trong việc xây dựng và thực hiện các dự án đầu tƣ, do vậy, dự báo ngày càng đóng vai trò quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt để thực hiện tốt các vai trò, nhiệm vụ khác. - Vai trò kế hoạch : Kinh tế thị trƣờng không đồng nghĩa với việc loại trừ vai trò của kế hoạch hóa mà trái lại rất cần thiết sự định hƣớng và điều tiết của Nhà nƣớc thông qua công cụ kế hoạch. Việc xây dựng phƣơng án, mục tiêu, chƣơng trình hành động và những bƣớc đi cụ thể có ý nghĩa đặc biệt to lớn đối với hoạt động quản lý đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.