Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài. 3 Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý hoàn thuế GTGT cho người nước ngoài của Tổng cục Hải quan. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện việc quản lý hoàn thuế GTGT cho người nước ngoài của Tổng cục Hải quan. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu về hoàn thuế GTGT cho ngƣời nƣớc ngoài Thuế GTGT là thuế gián thu, chiếm phần lớn số thu ngân sách nhà nước, đóng vị trí quan trọng trong hệ thống thuế của một quốc gia. Bên cạnh đó, việc hoàn thuế GTGT được nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên cứu. Thông thường thuế GTGT ở nội địa do cơ quan thuế nội địa quản lý. Thuế GTGT cho người nước ngoài, thuế GTGT ở khâu xuất, nhập khẩu do cơ quan hải quan quản lý.
Hiện nay, việc quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, hoàn thuế GTGT cho nước ngoài là nội dung mới được nhiều tổ chức, cá nhân nghiên cứu. Ở trong nước đã có một số tài liệu, đề tài, công trình nghiên cứu có đề cập đến vấn đề này dưới các góc độ khác nhau, nhưng những công trình nghiên cứu này chỉ nghiên cứu và đề cập đến những vấn đề chung. Mặc dù vậy, tất cả các công trình nghiên cứu đều là những tài liệu rất có giá trị để học viên tham khảo khi nghiên cứu và viết đề tài này, cụ thể như các đề tài sau: (1) Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý hoàn thuế GTGT tại Cục thuế Thừa Thiên Huế” Luận văn thạc sĩ của Trần Đức Tân năm 2011. Tác giả đề ra nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoàn thuế GTGT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
(2) Đề tài “Quản lý thuế GTGT tại Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh” Luận văn thạc sĩ của Ngô Thị Phượng năm 2014. Tác giả kiến nghị nhiều giải pháp quản lý thuế GTGT tại Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh. 5 (3) Đề án “Thí điểm hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá của người nước ngoài mua tại Việt Nam khi xuất cảnh qua cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài và sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất” của Bộ Tài chính năm 2011. Đề án đã đưa ra nhưng lý luận cơ bản đầu tiên cho việc thí điểm hoàn thuế GTGT cho người nước ngoài tại Việt Nam, trước hết được thí điểm tại sân bay quốc tế Nội Bài và sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.
(4) Đề tài Khoa học cấp ngành năm 2015: “Hoàn thiện pháp luật thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và cải cách hiện đại hóa hải quan” của Tổng cục Hải quan. Tác giải đưa ra các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật thuế xuất nhập khẩu phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế , cải cách hiện đại hóa hải quan và thông lệ quốc tế trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, cải cách hiện đại hóa hải quan. (5) Đề tài “Quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng”, Luận văn thạc s Kinh tế của Đặng Văn Dũng năm 2011. Tác giả đề ra nhiều giải pháp về quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
(6) Đề tài “Giải pháp chống thất thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận văn Thạc sĩ của Mai Thị Vân Anh năm 2015. Tác giả đã kiến nghị nhiều giải pháp về việc chống thất thu thuế của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cải cách hiện đại hóa hải quan. Các đề tài trên có đề cập ở mức độ nhất định về việc quản lý thu ngân sách đối với hàng hóa XNK, quản lý thuế, chống thất thu thuế, hoàn thuế GTGT, quản lý hoàn thuế GTGT, thí điểm hoàn thuế GTGT cho người nước ngoài nhưng chưa có đề tài nào trực tiếp nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc quản lý hoàn thuế GTGT cho người nước ngoài tại Tổng cục Hải quan mà trong luận văn của mình tác giả sẽ nghiên cứu. 6 Do đó, với đề tài: “Quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài của Tổng cục Hải quan” không trùng lắp với các công trình đã công bố trước đây, đề tài được lựa chọn trên cơ sở công tác thực tế của chính bản thân tác giả tại Tổng cục Hải quan và những mong muốn đóng góp của tác giả đối với việc hoàn thuế GTGT cho người nước ngoài tại đơn vị mình đang công tác.
Những dự kiến đóng góp mới của luận văn cụ thể như sau: Thứ nhất: Bổ sung, hoàn thiện các vấn đề lý luận về việc hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài. Thứ hai: Nghiên cứu có hệ thống những bài học kinh nghiệm từ các nước trên thế giới về việc hoàn thuế GTGT cho người nước ngoài. Qua đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm. Thứ ba: Phân tích có hệ thống thực trạng việc hoàn thuế GTGT cho người nước ngoài qua các năm 2016-2017-2018 của Tổng cục Hải quan.
Qua đó sẽ đánh giá toàn diện về các kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại. Thứ tư: Đề xuất hệ thống các giải pháp và kiến nghị góp phần hoàn thiện việc quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài của Tổng cục Hải quan. Cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế GTGT 1.
Khái niệm về thuế GTGT Theo quy định tại Điều 2 Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 thì “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Đặc điểm của thuế GTGT Từ khái niệm về thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 2 Luật thuế 7 giá trị gia tăng thì ta thấy được bản chất của thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu. Các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ là người nộp thuế nhưng người tiêu dùng mới là người chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa dịch vụ. Là một loại thuế độc lập nên thuế giá trị gia tăng cũng có những đặc điểm riêng biệt để phân biệt nó với các loại thuế khác như sau: Một là, thuế giá trị gia tăng có đối tượng chịu thuế rất rộng.
Đó là mọi đối tượng tồn tại trong xã hội, kể cả cá nhân và tổ chức đều phải chi trả thu nhập của mình để thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh tạo ra cho xã hội. Việc đánh thuế trên phạm vi lãnh thổ với mọi đối tượng thể hiện sự công bằng của thuế, đồng thời thể hiện thái độ của Nhà nước đối với các loại tiêu dùng trong xã hội. Đối với trường hợp cần khuyến khích tiêu dùng hoặc hạn chế việc trả tiền thuế của người tiêu dùng, Nhà nước sẽ không đánh thuế hoặc đánh thuế với mức thuế suất thấp nhất. Hai là, thuế giá trị gia tăng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ.
Việc đánh thuế chỉ trên phần giá trị tăng thêm mà không phải đối với toàn bộ giá trị hàng hóa dịch vụ làm cho số thuế giá trị gia tăng áp dụng trong mỗi khâu của quá trình lưu thông không gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu dùng. Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt thuế giá trị gia tăng với những loại thuế gián thu khác. Nếu như thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ đánh một lần ở khâu sản xuất hay nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; thuế xuất – nhập khẩu chỉ đánh ở khâu xuất hoặc nhập khẩu thì thuế giá trị gia tăng lại đánh ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa. Ba là, nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa dịch vụ, số thuế giá trị gia tăng phải nộp không thay đổi phụ thuộc vào các giai đoạn lưu thông khác nhau.
Đánh thuế ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa trong nước, nhập khẩu và lưu thông hàng hóa nhập khẩu nhưng cơ sở xác định số thuế phải nộp chỉ là phần giá trị mới tăng thêm của khâu sau so với khâu trước nên nếu coi giá thanh toán tính đến khi người tiêu dùng thụ hưởng 8 hàng hóa dịch vụ đã xác định trước và không thay đổi, các phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có bị chia nhỏ và đánh thuế, tổng số thuế giá trị gia tăng phải nộp qua các khâu chính là số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng phải gánh chịu. Vai trò của thuế GTGT Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý cuả nhà nước, do đó thuế giá trị gia tăng có vai trò rất quan trọng và được thể hiện như sau: Thứ nhất, thuế giá trị gia tăng thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc được cung ứng dịch vụ, nên tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho ngân sách nhà nước. Thứ hai, thuế GTGT tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ và đánh vào người tiêu dùng cuối cùng nên việc tổ chức quản lý thu tương đối dễ dàng.
Thứ ba, đối với hàng xuất khẩu được áp dụng thuế suất thuế GTGT là 0%, doanh nghiệp xuất khẩu được khấu trừ hoặc được hoàn lại số thuế giá trị gia tăng đầu vào. Chính sách này của nhà nước có tác dụng khuyến khích doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế. Thứ tư, thuế giá trị gia tăng cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa. Thứ năm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao.