mở đầu của một chu trình ngân sách nhà nƣớc. Những khoản chi thƣờng xuyên một khi đã đƣợc ghi vào dự toán chi và đã đƣợc cơ quan quyền lực nhà nƣớc xét duyệt đƣợc coi là tiêu chí pháp lệnh. Xét trên giác độ quản lý, số chi thƣờng xuyên đã đƣợc ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ quan chức năng quản lý tài chính nhà nƣớc với các đơn vị thụ hƣởng NSNN, từ đó nảy sinh nguyên tắc quản lý chi thƣờng xuyên theo dự toán. + Nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả: tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của quản lý kinh tế, tài chính bởi lẽ nguồn lực thì luôn có giới hạn nhƣng nhu cầu thì không có giới hạn.
Do vậy trong quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực khan hiếm đó luôn phải tính toán sao cho với chi phí ít nhất nhƣng phải đạt đƣợc kết quả cao nhất. Mặt khác do đặc thù hoạt động NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp, nhu cầu chi từ NSNN luôn gia tăng với tốc độ nhanh chóng trong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn, nên càng phải tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong quản lý chi thƣờng xuyên ngân sách nhà nƣớc. + Nguyên tắc chi trực tiếp qua kho bạc Nhà nƣớc: một trong những chức năng quan trọng của kho bạc nhà nƣớc là quản lý quỹ NSNN. Vì vậy, kho bạc nhà nƣớc vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ 11 mọi khoản chi ngân sách nhà nƣớc, đặc biệt là các khoản chi thƣờng xuyên.
Để tăng cƣờng vai trò của kho bạc nhà nƣớc trong kiểm soát chi thƣờng xuyên của NSNN, hiện nay ở nƣớc ta đã và đang thực hiện việc chi trực tiếp qua KBNN nhƣ là một nguyên tắc trong quản lý khoản chi này. Để thực hiện đƣợc nguyên tắc chi trực tiếp qua kho bạc nhà nƣớc cần phải giải quyết tốt một số vấn đề sau: Thứ nhất, tất các các khoản chi NSNN phải đƣợc kiểm tra, kiểm soát trƣớc trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán. Các khoản chi phải có trong dự toán NSNN đƣợc duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định và phải đƣợc thủ trƣởng đơn vị sử dụng kinh phí NSNN hoặc ngƣời đƣợc ủy quyền quyết định chi. Thứ hai, tất cả các cơ quan đơn vị, các chù dự án.
sử dụng kinh phí NSNN phải mở tài khoản tại kho bạc nhà nƣớc, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan, tổ chức, kho bạc nhà nƣớc trong quá trình lập dự toán, phân bổ dự toán, cấp phát thanh toán, hạch toán kế toán và quyết toán NSNN. Thứ ba, Bộ Tài chính, Sở tài chính - vật giá tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng, phòng tài chính kế hoạch quận huyện thị xã thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm thẩm định dự toán và thông báo dự toán đã đƣợc thẩm tra cho các đơn vị thụ hƣởng kinh phí ngân sách, kiểm tra việc sử dụng kinh phí, xét duyệt quyết toán chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán chi NSNN. Thứ tư, KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo đúng quy định, tham gia với các cơ quan tài chính, cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và xác định số thực chi NSNN. Kho bạc nhà nƣớc có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán, chi trả và thông báo cho các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nƣớc biết đồng gửi cho cơ quan tài chính đồng cấp giải quyết trong các trƣờng hợp sau: - Chi không đúng mục đích, đối tƣợng theo dự toán đƣợc duyệt.
12 - Chi không đúng chế độ, định mức chi tiêu tài chính nhà nƣớc. - Không đủ các điều kiện về chi theo quy định. Thứ năm, mọi khoản chi NSNN đƣợc hạch toán bằng đồng Việt Nam theo từng niên độ ngân sách, từng cấp ngân sách và mục lục NSNN. Các khoản chi NSNN bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động đƣợc quy đổi và hạch toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan có thẩm quyền quy định.
Thứ sáu, trong quá trình quản lý, cấp phát, quyết toán chi NSNN, các khoản chi sai phải thu hồi giảm chi. Căn cứ vào quy định của cơ quan tài chính hoặc quyết định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, kho bạc nhà nƣớc thu hồi giảm chi NSNN. - Nội dung chi thường xuyên: + Chi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ đƣợc cấp có thẩm quyền giao. + Chi phục vụ cho việc thực hiện công việc, dịch vụ thu phí, lệ phí.
+ Chi cho các hoạt động dịch vụ (kể cả chi thực hiện nghĩa vụ ngân sách nhà nƣớc, trích khấu hao tài sản theo quy định, chi trả vốn, trả lãi tiền vay theo quy định của pháp luật). + Các khoản chi thƣờng xuyên có thể đƣợc phân chia thành các nhóm: Các khoản chi thanh toán cho các nhân: tiền lƣơng, tiền công, phụ cấp lƣơng, các khoản đóng góp theo lƣơng, tiền thƣởng, phúc lợi tập thể và các khoản thanh toán khác cho cá nhân theo quy định. Các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn: chi thanh toán dịch vụ công cộng, chi thuê mƣớn, chi vật tƣ văn phòng, chi công tác phí, chi các khoản chi đặc thù, chi sửa chữa thƣờng xuyên tài sản cố định phục vụ công tác chuyên môn; chi đoàn ra, đoàn vào. Chi mua sắm tài sản, trang thiết bị, phƣơng tiện vật tƣ không theo các chƣơng trình dự án sử dụng nguồn kinh phí thƣờng xuyên.
13 Các khoản chi thƣờng xuyên phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí theo quy định bao gồm chi cho lao động trực tiếp thu phí, lệ phí. - Nội dung quản lý chi thường xuyên NSNN + Xây dựng định mức chi: Định mức chi là cơ sở quan trọng để lập dự toán chi, cấp phát và quyết toán các khoản chi đồng thời là chuẩn mực để phân bổ và kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng kinh phí ngân sách nhà nƣớc. + Lập dự toán chi thƣờng xuyên: Quản lý theo dự toán là một nguyên tắc quan trọng trong quản lý chi ngân sách nhà nƣớc. Khi lập dự toán chi NSNN phải căn cứ vào chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ; căn cứ vào nhu cầu kinh phí, khả năng huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách cũng nhƣ khả năng đáp ứng của NSNN trong kỳ kế hoạch để lập dự toán.
+ Quyết toán và kiểm toán các khoản chi: Mục đích của công việc này là tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi, từ đó rút ra những ƣu, nhƣợc điểm trong quản lý để có biện pháp khắc phục. Tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên NSNN 1.Tiêu chí đánh giá quản lý chi thường xuyên NSNN Để đánh giá hiệu quả quản lý chi thƣờng xuyên dựa trên 2 tiêu chí chủ yếu sau: Về định tính: - Việc thực hiện không vi phạm các quy định về quản lý chi thƣờng xuyên. - Các đơn vị HCNN thực hiện đúng việc chi dựa trên các nguyên tắc và các quy định mà Nhà nƣớc đã xây dựng. - Các khoản chi các đơn vị HCNN chi và thực hiện việc giám sát theo các qui định của Nhà nƣớc.
14 - Kết thúc năm các đơn vị HCNN sẽ tổng kết các khoản chi và đánh giá xem có hoàn thành các nhiệm vụ đƣợc giao hay không (có chi đúng, chi đủ không). Hơn nữa trong quá trình triển khai sẽ có những phát sinh các đơn vị HCNN cần có những chủ động báo cáo và xử lý để đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả cho nguồn kinh phí Nhà nƣớc giao. Rút kinh nghiệm cho các năm tiếp theo. Về định lượng: Khi đánh giá hiệu quả quản lý chi thƣờng xuyên dựa trên tiêu chí về định lƣợng thì các cơ quan nhà nƣớc căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ của nhà nƣớc; tùy thuộc vào nhiệm vụ chính trị đƣợc giao của từng cơ quan hành chính nhà nƣớc cụ thể mà đƣa ra con số cụ thể về: - Tỷ lệ giữ số chi ngân sách hàng năm so với số đƣợc giao (%).
- Tỷ lệ thực hiện hoàn thành kế hoạch chi (%). -Tỷ lệ thực hiện vƣợt kế hoạch chi (%). - Tỷ lệ thực hiện thấp hơn so với kế hoạch (%). Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên NSNN Có nhiều nhân tố ảnh hƣởng đến quản lý chi thƣờng xuyên.
Tuy nhiên xem xét trên khía cạnh nguồn gốc tác động đến cơ chế và việc thực hiện tự chủ tài chính thì có thể chia làm hai nhóm nhân tố ảnh hƣởng; đó là: nhân tố bên trong đơn vị và nhân tố bên ngoài đơn vị. Trong đó, nhân tố bên ngoài thì nhân tố chính đề cập đó chính là sự tác động của cơ chế, chính sách của Nhà nƣớc đối với vấn đề tự chủ tài chính tại các cơ quan HCNN nói chung và các cơ quan HCNN có điểm đặc thù nói riêng. Còn nhân tố bên trong thì chính là bản thân nội tại của đơn vị. Nhân tố bên ngoài - Chủ trƣơng chính sách của Đảng và Nhà nƣớc đối với các cơ quan HCNN và sự nhận thức đổi mới cơ chế quản lý của nhà nƣớc trong từng giai đoạn: Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn coi trọng phát triển nền 15 hành chính, đẩy mạnh cải cách nền hành chính nói chung và đổi mới cơ chế quản lý tài chính nói riêng.
Điều đó thể hiện ở các Nghị quyết, chủ trƣơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc về vấn đề này, qua đó các cơ chế quản lý đối với hoạt động của cơ quan HCNN đều đƣợc cải tiến cho phù hợp với tình hình mới. - Chính sách kinh tế - xã hội: Đây chính là tổng thể các quan điểm, tƣ tƣởng, giải pháp công cụ mà nhà nƣớc sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế - xã hội nhằm giải quyết các vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hƣớng mục tiêu tổng thể của Nhà nƣớc. Mỗi chính sách đƣợc xây dựng nhằm vào một mục tiêu cụ thể. Thông qua công cụ này Nhà nƣớc định hƣớng hành vi của các chủ thể kinh tế xã hội để cùng hƣớng tới mục tiêu chung, xác định những chỉ dẫn chung, vạch ra phạm vi hoặc giới hạn cho quá trình ra quyết định của các chủ thể kinh tế - xã hội.