Tổng quan nghiên cứu

Quan hệ kinh tế đối ngoại giữa Việt Nam và Nhật Bản đã trải qua những bước chuyển mình mạnh mẽ kể từ khi hai quốc gia bình thường hóa và mở rộng hợp tác toàn diện. Xuất phát điểm từ quy mô khiêm tốn với tổng kim ngạch hai chiều chỉ đạt 509,3 triệu USD vào năm 1990, mối quan hệ thương mại song phương đã tăng trưởng vượt bậc, chính thức vượt mốc 21,181 tỷ USD vào năm 2011 và đạt khoảng 25 tỷ USD vào năm 2012. Nhật Bản nhanh chóng xác lập vị thế là bạn hàng thương mại hàng đầu, đối tác cung cấp viện trợ phát triển chính thức lớn nhất với gần 20 tỷ USD vốn cam kết giai đoạn 1992–2011, đồng thời là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài số một tại Việt Nam với 1.800 dự án còn hiệu lực, đạt tổng vốn đăng ký 29 tỷ USD tính đến cuối năm 2012.

Tuy nhiên, mối quan hệ trao đổi thương mại giữa hai nước trong giai đoạn này vẫn đối mặt với nhiều rào cản lớn. Thị phần hàng hóa Việt Nam tại thị trường Nhật Bản còn khiêm tốn khi chỉ chiếm xấp xỉ 1% tổng giá trị nhập khẩu của Nhật Bản vào năm 2007, thấp hơn đáng kể so với mức 20,5% của Trung Quốc hay 2,94% của Thái Lan. Bên cạnh đó, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn phụ thuộc vào các sản phẩm gia công và tài nguyên thô sơ chế.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ thực trạng vận động của dòng chảy thương mại hàng hóa hai chiều, phân tích các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh và cơ cấu mặt hàng, từ đó xác lập hệ thống giải pháp toàn diện nhằm hiện thực hóa mục tiêu nâng gấp đôi kim ngạch thương mại song phương vào năm 2020 theo Tuyên bố chung năm 2011. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ tiến trình trao đổi thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản trong giai đoạn 1990–2013 dưới góc nhìn từ phía Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng kết hợp các học thuyết kinh tế học quốc tế kinh điển và hiện đại. Đầu tiên, lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo cung cấp cơ sở khoa học để giải thích tính chất bổ trợ lẫn nhau giữa hai nền kinh tế. Trong khi Việt Nam sở hữu lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện nông nghiệp nhiệt đới và nguồn nhân lực dồi dào với chi phí cạnh tranh, thì Nhật Bản lại có thế mạnh tuyệt đối về nguồn vốn dồi dào, công nghệ chế tạo hiện đại và năng lực nghiên cứu phát triển vượt bậc khi tỷ lệ chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển từng đạt mức 3,18% GDP vào năm 2000.

Bên cạnh đó, chủ nghĩa trọng thương và lý thuyết thương mại quốc tế hiện đại được vận dụng nhằm phân tích vai trò của các công cụ điều tiết thương mại. Nghiên cứu tập trung làm rõ tác động qua lại giữa 4 khái niệm then chốt gồm: thương mại song phương, hàng rào thuế quan theo cam kết cắt giảm của Tổ chức Thương mại Thế giới từ mức bình quân 17,4% xuống 13,4%, các rào cản phi thuế quan cùng quy định tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn thực phẩm, và hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập. Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố nội lực kinh tế vĩ mô, chính sách mở cửa hội nhập và khuôn khổ pháp lý đa tầng như Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN – Nhật Bản cùng Hiệp định Đối tác Kinh tế Song phương Việt Nam – Nhật Bản có hiệu lực từ ngày 01/10/2009.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện được thu thập từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, Bộ Công Thương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Tổ chức Thương mại Thế giới, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm chuỗi dữ liệu vĩ mô liên tục trong 24 năm từ năm 1990 đến năm 2013, kết hợp dữ liệu thống kê chi tiết theo từng nhóm mặt hàng chủ lực giai đoạn 2005–2012 với 10 ngành hàng trọng yếu.

Phương pháp chọn mẫu toàn bộ theo chuỗi thời gian được áp dụng nhằm đảm bảo tính bao quát, phản ánh đầy đủ các chu kỳ biến động kinh tế như cuộc khủng hoảng tài chính khu vực 1997–1998 và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008. Phương pháp phân tích chủ đạo là thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi số liệu theo lát cắt thời gian và phương pháp tổng hợp cân đối liên ngành. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp lượng hóa chính xác tốc độ tăng trưởng kim ngạch, đo lường mức độ chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu và đánh giá khách quan hiệu lực thực thi của các cam kết thương mại quốc tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra quy mô trao đổi thương mại song phương giữa Việt Nam và Nhật Bản đã có bước nhảy vọt đáng kể sau hơn hai thập kỷ. Tổng kim ngạch hai chiều từ 509,3 triệu USD năm 1990 đã tăng lên 3.184,7 triệu USD năm 1997, đạt 17,3 tỷ USD năm 2008 và xác lập quy mô 22,5 tỷ USD chỉ trong 11 tháng đầu năm 2012. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản duy trì mức tăng ấn tượng từ 15% đến 20% mỗi năm trong giai đoạn bình ổn.

Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam ghi nhận sự chuyển dịch tích cực từ các mặt hàng thô sang sản phẩm chế biến và chế tạo có hàm lượng công nghệ cao hơn. Tỷ trọng hàng thô sơ chế đã giảm mạnh từ 67,2% năm 1995 xuống còn 49,6% năm 2005, trong khi tỷ trọng hàng chế biến tăng tương ứng từ 32,8% lên 50,4%. Số liệu năm 2010 minh chứng rõ nét xu hướng này: xuất khẩu dệt may vươn lên dẫn đầu với 1,154 tỷ USD, tăng 21,01% so với năm 2009; nhóm dây điện và cáp điện đạt 920 triệu USD, tăng trưởng 43,87%; nhóm máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt 903,3 triệu USD, tăng mạnh 50,57%. Ngược lại, xuất khẩu dầu thô giảm mạnh 55,40% xuống còn 214,1 triệu USD.

Cán cân thương mại hai chiều ghi nhận sự cải thiện rõ rệt và chuyển biến tích cực sang trạng thái xuất siêu. Năm 2011, Việt Nam xuất siêu sang Nhật Bản 380 triệu USD với kim ngạch xuất khẩu đạt 10,78 tỷ USD và nhập khẩu đạt 10,40 tỷ USD. Trong 11 tháng đầu năm 2012, xuất khẩu đạt 11,9 tỷ USD, tăng 16,5% so với cùng kỳ, trong khi nhập khẩu đạt 10,6 tỷ USD, giúp Việt Nam tiếp tục duy trì thặng dư thương mại 1,3 tỷ USD.

Vị thế và thị phần của hàng hóa Việt Nam tại thị trường Nhật Bản vẫn ở mức khiêm tốn. Số liệu so sánh thị phần nhập khẩu của Nhật Bản từ các quốc gia Đông Nam Á năm 2007 cho thấy Việt Nam mới chỉ chiếm xấp xỉ 1%, thấp hơn nhiều so với Malaysia đạt 2,8%, Thái Lan đạt 2,94% và Trung Quốc chiếm tới 20,5%.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu cho thấy sự gia tăng kim ngạch thương mại phản ánh đúng tính chất tương hỗ tự nhiên giữa hai cấu trúc kinh tế. Sự tăng trưởng của các nhóm hàng công nghiệp chế tạo như dây điện, linh kiện và thiết bị phụ tùng trong giai đoạn 2008–2012 là kết quả trực tiếp từ làn sóng dịch chuyển vốn đầu tư trực tiếp của các tập đoàn Nhật Bản sang Việt Nam, tận dụng nguồn lao động dồi dào và ổn định chính trị. Trong thực tế, các dữ liệu chuỗi thời gian về kim ngạch và cơ cấu xuất nhập khẩu giai đoạn 1994–2012 được thể hiện rất sinh động qua các đồ thị đường và biểu đồ cột kết hợp, làm nổi bật bước ngoặt bứt phá sau khi Hiệp định VJEPA có hiệu lực vào năm 2009.

Nguyên nhân chính khiến thị phần hàng hóa Việt Nam tại Nhật Bản còn thấp xuất phát từ sự yếu kém nội tại của ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước, dẫn đến tỷ lệ nội địa hóa thấp và giá trị gia tăng giữ lại không cao. Bên cạnh đó, các rào cản kỹ thuật nghiêm ngặt của Nhật Bản về dư lượng kháng sinh trong thủy sản và tiêu chuẩn kiểm dịch thực vật khắt khe đã cản trở đà tăng trưởng của nhóm nông thủy sản, khiến thị phần chưa tương xứng với tiềm năng của một quốc gia có 1,2 triệu ha mặt nước nuôi trồng và nguồn lợi biển phong phú.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản phát triển bền vững và tương xứng với tiềm năng, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, Chính phủ cùng Bộ Công Thương cần ban hành và thực thi nhất quán quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ. Cần tập trung nguồn lực ưu đãi thuế và đất đai cho các doanh nghiệp sản xuất linh kiện cơ khí, điện tử và nguyên phụ liệu dệt may nhằm nâng tỷ lệ nội địa hóa từ mức dưới 30% lên tối thiểu 45% vào năm 2020, qua đó tăng cường giá trị gia tăng cho hàng hóa xuất khẩu sang Nhật Bản.

Thứ hai, Bộ Công Thương phối hợp cùng Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức các chương trình tập huấn chuyên sâu về quy tắc xuất xứ hàng hóa. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan từ Hiệp định VJEPA và AJCEP lên trên 80% kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn 2014–2018, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí khi Nhật Bản xóa bỏ thuế quan đối với 94% dòng hàng.

Thứ ba, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng các Hiệp hội ngành hàng thủy sản và đồ gỗ xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng đạt chuẩn quốc tế ngay từ khâu nuôi trồng và sơ chế. Cần đặt mục tiêu giảm tỷ lệ các lô hàng thủy sản bị cảnh báo dư lượng hóa chất tại cửa khẩu Nhật Bản xuống mức dưới 0,5% trước năm 2017 thông qua việc áp dụng rộng rãi quy trình VietGAP và GlobalGAP.

Thứ tư, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần chủ động đổi mới chiến lược tiếp cận thị trường, chuyển đổi phương thức xúc tiến thương mại từ bán hàng qua trung gian sang thiết lập văn phòng đại diện hoặc liên kết trực tiếp với các tập đoàn bán lẻ lớn tại Tokyo và Osaka trong giai đoạn 2015–2020 nhằm gia tăng biên lợi nhuận thêm 15% đến 20%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương và Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn và bức tranh dữ liệu toàn diện để xây dựng chiến lược đàm phán nâng cấp các hiệp định kinh tế song phương, đồng thời thiết kế các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài gắn liền với chuyển giao công nghệ.

Nhóm thứ hai là ban lãnh đạo các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng dệt may, da giày, thủy hải sản, nông sản và cơ khí điện tử. Doanh nghiệp có thể sử dụng các phân tích về rào cản kỹ thuật, yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng và biến động nhu cầu thị trường Nhật Bản để điều chỉnh cơ cấu sản phẩm và chiến lược định giá tối ưu.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Kinh tế đối ngoại và Thương mại quốc tế. Đây là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu thương mại song phương, cách thức xử lý chuỗi dữ liệu kinh tế vĩ mô và vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh vào thực tiễn Việt Nam.

Nhóm thứ tư là các hiệp hội ngành hàng và tổ chức xúc tiến thương mại như Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Các cơ quan này có thể ứng dụng các phát hiện nghiên cứu để xây dựng cẩm nang hướng dẫn thâm nhập thị trường Nhật Bản và tổ chức các chương trình kết nối giao thương hiệu quả cho cộng đồng doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Hiệp định VJEPA có hiệu lực từ năm 2009 mang lại lợi ích thuế quan cụ thể nào cho Việt Nam? Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc giúp Nhật Bản cam kết tự do hóa đối với 94% kim ngạch thương mại song phương trong vòng 10 năm. Nhiều mặt hàng thế mạnh của Việt Nam như thủy sản, nông sản chế biến, hàng dệt may và đồ gỗ được hưởng mức thuế suất ưu đãi đặc biệt 0%, tạo động lực đưa kim ngạch xuất khẩu vượt mốc 10 tỷ USD vào năm 2011.

Tại sao cán cân thương mại Việt – Nhật lại chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu trong giai đoạn 2011–2012? Cán cân thương mại chuyển biến tích cực nhờ sự bứt phá của các nhóm hàng công nghiệp chế tạo và hàng tiêu dùng chủ lực. Xuất khẩu năm 2011 đạt 10,78 tỷ USD vượt nhập khẩu 10,40 tỷ USD, tạo thặng dư 380 triệu USD. Xu hướng này tiếp diễn trong 11 tháng đầu năm 2012 khi xuất khẩu tăng trưởng 16,5%, đạt 11,9 tỷ USD trong khi nhập khẩu chỉ đạt 10,6 tỷ USD.

Những rào cản phi thuế quan lớn nhất mà doanh nghiệp Việt Nam gặp phải tại thị trường Nhật Bản là gì? Rào cản lớn nhất nằm ở các quy chuẩn kỹ thuật ngặt nghèo về vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thực vật và dư lượng hóa chất kháng sinh theo Luật Vệ sinh Thực phẩm Nhật Bản. Doanh nghiệp thủy sản và nông sản thường xuyên đối mặt với việc kiểm tra nghiêm ngặt 100% lô hàng, làm phát sinh chi phí lưu kho bãi và kéo dài thời gian thông quan.

Mối quan hệ giữa dòng vốn ODA, FDI của Nhật Bản và tăng trưởng thương mại song phương thể hiện ra sao? Dòng vốn ODA trị giá gần 20 tỷ USD từ năm 1992 đến 2011 tập trung hoàn thiện hạ tầng cảng biển, giao thông và năng lượng tại Việt Nam. Đồng thời, 29 tỷ USD vốn FDI đăng ký tính đến năm 2012 từ 1.800 dự án của Nhật Bản đã trực tiếp xây dựng năng lực sản xuất cho các ngành chế tạo máy, thiết bị điện tử và phụ tùng, tạo ra nguồn hàng hóa xuất khẩu ngược trở lại Nhật Bản.

Mục tiêu tăng trưởng kim ngạch thương mại song phương đến năm 2020 được hai quốc gia xác định như thế nào? Trong Tuyên bố chung năm 2011, lãnh đạo cấp cao hai nước đã đặt mục tiêu nâng quy mô kim ngạch thương mại song phương lên gấp đôi vào năm 2020. Dựa trên quy mô hơn 21 tỷ USD năm 2011 và dự kiến đạt 29 tỷ USD năm 2013, mục tiêu hướng tới là đạt quy mô trao đổi thương mại vượt mức 40 đến 50 tỷ USD vào năm 2020.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thương mại song phương và khẳng định tính tất yếu của việc mở rộng giao thương Việt Nam – Nhật Bản dựa trên lợi thế so sánh bổ trợ.
  • Phân tích chi tiết bước nhảy vọt của tổng kim ngạch hai chiều từ 509,3 triệu USD năm 1990 lên khoảng 25 tỷ USD năm 2012, ghi nhận sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu sang nhóm chế biến chế tạo có giá trị cao.
  • Chỉ rõ thực trạng cán cân thương mại chuyển dần sang xuất siêu bền vững nhưng thị phần hàng hóa Việt Nam tại thị trường Nhật Bản vẫn còn thấp, chỉ chiếm xấp xỉ 1%.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa phát triển công nghiệp hỗ trợ, tận dụng quy tắc xuất xứ các hiệp định FTA và kiểm soát chất lượng hàng nông thủy sản.
  • Vạch rõ lộ trình hành động giai đoạn 2014–2020 cho các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp nhằm hiện thực hóa mục tiêu nâng đôi kim ngạch thương mại song phương.

Để khai thác tối đa tiềm năng to lớn từ thị trường Nhật Bản, các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần bắt tay ngay vào việc triển khai đồng bộ các giải pháp về nâng cao chuỗi giá trị và kiểm chuẩn kỹ thuật nhằm nâng cao vị thế hàng Việt trên trường quốc tế.