Tổng quan nghiên cứu
Khu vực nông thôn Việt Nam giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng khi chiếm trên 70% dân số và hơn 60% lực lượng lao động xã hội, đồng thời đóng góp khoảng 20% GDP cùng hơn 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Mặc dù vậy, thu nhập bình quân của cư dân nông thôn chỉ bằng khoảng một phần ba so với khu vực thành thị, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc thu hẹp khoảng cách phát triển thông qua Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Tại tỉnh Phú Thọ, địa bàn trung du miền núi phía Bắc với 247 xã trải rộng trên 13 huyện, thị xã và thành phố, tiến trình thực thi chương trình giai đoạn 2010-2013 bộc lộ nhiều điểm nghẽn mang tính cấu trúc. Sự phân hóa sâu sắc giữa 3 vùng sinh thái gồm miền núi, trung du và đồng bằng dẫn đến hạ tầng giao thông còn lạc hậu với 66,53% tổng chiều dài mạng lưới là đường đất, đồng thời chỉ có 11,7% số xã đạt Tiêu chí số 10 về thu nhập vào năm 2013. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Đỗ Xuân Nhuần tập trung đánh giá toàn diện hiệu quả quản trị công, phân bổ nguồn lực và mức độ hoàn thành 19 tiêu chí nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010-2013. Mục tiêu nghiên cứu hướng tới việc nhận diện nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế, từ đó kiến tạo hệ thống giải pháp quản lý kinh tế đồng bộ nhằm nâng mức thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn lên trên 30 triệu đồng/năm và tối ưu hóa hiệu quả thực hiện chương trình đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết quản lý kinh tế công và lý thuyết hiệu quả đầu tư công để phân tích mối tương quan giữa nguồn lực đầu vào với kết quả đầu ra kinh tế - xã hội. Hiệu quả thực hiện chương trình nông thôn mới được xác định là một phạm trù kinh tế tổng hợp, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực đất đai, lao động, vốn ngân sách và vốn xã hội hóa nhằm tạo ra sự chuyển biến thực chất về chất lượng sống cho cư dân nông thôn.
Đồng thời, đề tài kế thừa lý luận phát triển nông thôn tích hợp theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, đặt nông dân vào vị trí chủ thể trung tâm của quá trình hiện đại hóa. Luận văn tiếp thu có chọn lọc các bài học quốc tế điển hình như Phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc thập niên 1970 với nguyên tắc Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần vật tư để kích hoạt nội lực tự chủ của cộng đồng, phong trào Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) tại tỉnh Oita Nhật Bản với hơn 329 sản phẩm đặc sản giá trị gia tăng cao, và mô hình OTOP của Thái Lan. Khung phân tích của đề tài chuẩn hóa 3 khái niệm trọng tâm gồm nông thôn mới, hiệu quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, và bộ tiêu chí xã nông thôn mới gồm 19 tiêu chí thuộc 5 nhóm lĩnh vực then chốt.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn xác từ Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010-2013, báo cáo tổng kết của Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Phú Thọ, Sở Giao thông Vận tải với số liệu đo đạc 10.730 km đường giao thông, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về 813 công trình thủy lợi và mạng lưới 184 chợ nông thôn.
Để đảm bảo tính xác thực và đại diện cao, phương pháp điều tra khảo sát thực địa được triển khai với cỡ mẫu 350 phiếu khảo sát thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 15 xã đại diện cho 3 tiểu vùng địa hình: vùng núi cao (độ cao trên 800m), vùng đồi gò trung du và vùng đồng bằng ven sông. Phương pháp chọn mẫu này giúp phản ánh chính xác sự chênh lệch về điều kiện kinh tế và văn hóa tập quán giữa các địa phương. Bên cạnh đó, tác giả thực hiện 25 cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ thuộc 13 ban chỉ đạo cấp huyện kết hợp phương pháp tọa đàm chuyên gia. Dữ liệu định lượng và định tính được làm sạch, tổng hợp và xử lý trên phần mềm thống kê chuyên dụng Microsoft Excel nhằm tính toán các chỉ số so sánh tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng cơ cấu và mức độ hoàn thành các chỉ tiêu kỹ thuật.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình điều tra thực trạng xây dựng nông thôn mới tại 247 xã tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010-2013 ghi nhận những kết quả nổi bật song hành cùng các bất cập lớn:
Thứ nhất, công tác quy hoạch và xây dựng bộ máy quản lý đạt tiến độ vượt bậc khi 100% số xã (247/247 xã) hoàn thành phê duyệt quy hoạch tổng thể vào tháng 5/2012 và đề án chi tiết vào cuối năm 2012. Tỉnh đã tổ chức tập huấn cho 6.836 lượt cán bộ cơ sở, trong đó cấp chứng chỉ nghiệp vụ quản lý dự án và đấu thầu cho 1.204 lượt người.
Thứ hai, kết cấu hạ tầng kỹ thuật bộc lộ sự thiếu đồng bộ nghiêm trọng. Toàn tỉnh có 10.730 km đường giao thông nông thôn nhưng tỷ lệ nhựa hóa và bê tông hóa chỉ đạt 19,38%, trong khi đường đất chiếm tới 66,53%. Đường trục xã đạt chuẩn kỹ thuật mới đạt 28,1% (so với yêu cầu 100% của Tiêu chí 2), đường liên thôn cứng hóa đạt 21,39% (yêu cầu 50%), và đường nội đồng phần lớn là đường đất chiếm trên 96%. Hệ thống thủy lợi có 813 công trình nhưng tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương mới đạt 35,11% (670 km).
Thứ ba, các chỉ tiêu kinh tế và tổ chức sản xuất đạt kết quả rất khiêm tốn. GDP bình quân khu vực nông thôn toàn tỉnh năm 2013 đạt 17 triệu đồng/người/năm (tăng 41,6% so với mức 12 triệu đồng năm 2010), tuy nhiên toàn tỉnh chỉ có 29/247 xã đạt Tiêu chí số 10 về thu nhập, tương ứng tỷ lệ 11,7%. Tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực nông lâm thủy sản vẫn ở mức rất cao là 63%, chỉ có 21/249 xã đạt tiêu chuẩn dưới 45% theo Tiêu chí số 12 (chiếm 8,4%). Toàn tỉnh duy trì 268 hợp tác xã nông nghiệp, giúp 182/247 xã đạt Tiêu chí 13 về hình thức tổ chức sản xuất (đạt 73,6%).
Thứ tư, lĩnh vực văn hóa - xã hội có bước tiến nhưng còn thiếu bền vững. Toàn tỉnh có 100% số xã tiếp cận điện lưới quốc gia với mức tiêu thụ trên 900 kWh/người/năm (tăng 31,9% so với năm 2008), 64,52% hộ dân có nhà ở kiên cố và bán kiên cố, 86,2% gia đình đạt chuẩn văn hóa. Ngược lại, tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia chỉ đạt 34% (chuẩn NTM là 70%), tỷ lệ xã có nhà văn hóa xã đạt chuẩn chỉ ở mức 14,00%, và điểm bưu điện kết nối internet nông thôn chỉ đạt 10,53%.
Thảo luận kết quả
Các phát hiện thực nghiệm chỉ ra rằng sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ phê duyệt quy hoạch (đạt 100%) và tỷ lệ đạt các tiêu chí kinh tế bắt nguồn từ việc phân bổ nguồn vốn đầu tư công bị dàn trải. Trong giai đoạn 2010-2013, dòng vốn tập trung chủ yếu vào các công trình hạ tầng dân sinh cơ bản như giao thông và trụ sở mà chưa chú trọng đầu tư thỏa đáng cho các mô hình phát triển sinh kế, chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nâng cao chuỗi giá trị nông sản.
Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ nét sự bất đối xứng không gian, có thể biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ cứng hóa đường giao thông giữa vùng đồng bằng (đạt trên 58%) với vùng miền núi (chỉ đạt dưới 19%). Bảng ma trận 19 tiêu chí cũng cho thấy nhóm tiêu chí hạ tầng và kinh tế luôn nằm trong nhóm có tỷ lệ hoàn thành thấp nhất. Khi so sánh với tốc độ tăng bình quân cả nước (tăng từ 5,27 tiêu chí/xã năm 2011 lên 8,48 tiêu chí/xã năm 2013), Phú Thọ đạt bước tiến đáng kể về xây dựng hệ thống quản lý nhưng lại chậm chuyển dịch cơ cấu lao động. Điều này khẳng định việc xây dựng nông thôn mới không thể chỉ dựa vào nguồn lực cơ bắp hay đầu tư xây dựng đơn thuần, mà cần chuyển trọng tâm sang quản trị chuỗi giá trị và thúc đẩy kinh tế hợp tác.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015-2020, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
Thứ nhất, tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp gắn với phát triển chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện tập trung quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa tập trung như chè an toàn, cây nguyên liệu giấy, bưởi Đoan Hùng và chăn nuôi đại gia súc. Mục tiêu phấn đấu nâng thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt trên 30 triệu đồng/năm vào năm 2020, đưa tỷ lệ xã đạt Tiêu chí số 10 lên trên 50%.
Thứ hai, đa dạng hóa và tối ưu hóa cơ chế phân bổ nguồn vốn đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật. Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ và Sở Kế hoạch và Đầu tư cần lồng ghép linh hoạt nguồn vốn từ Quyết định 195/QĐ-TTg, vốn trái phiếu Chính phủ và các chương trình mục tiêu quốc gia khác, kết hợp chính sách nhà nước và nhân dân cùng làm. Mục tiêu giai đoạn 2015-2020 là nâng tỷ lệ cứng hóa đường liên thôn từ 21,39% lên trên 60%, kiên cố hóa kênh mương từ 35,11% lên 70%, và hoàn thành nâng cấp mạng lưới 184 chợ nông thôn.
Thứ ba, đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì triển khai đào tạo nghề chuyên môn cho khoảng 10.000 đến 12.000 lao động mỗi năm theo Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Phấn đấu giảm tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản từ 63% xuống dưới 45% vào năm 2020, giúp tối thiểu 50% số xã đạt chuẩn Tiêu chí số 12.
Thứ tư, tăng cường trao quyền và phát huy quy chế dân chủ cơ sở. Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các cấp cần triệt để phân cấp quản lý dự án cho cấp xã, thực hiện công khai minh bạch toàn bộ các khoản đóng góp và đấu thầu xây lắp. Tỷ lệ giám sát cộng đồng tại 247 xã cần được duy trì thường xuyên 100%, bảo đảm người dân thực sự tham gia từ khâu lập kế hoạch đến khâu nghiệm thu và thụ hưởng công trình.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:
Nhóm thứ nhất là cán bộ lãnh đạo và chuyên viên tại Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ cũng như các tỉnh trung du miền núi phía Bắc. Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và khung giải pháp quản trị để xây dựng kế hoạch phân bổ vốn trung hạn, khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản.
Nhóm thứ hai là các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Đề tài đóng vai trò là tài liệu tham khảo khoa học chuẩn mực về phương pháp đánh giá hiệu quả chương trình công, kỹ thuật chọn mẫu phân tầng và quy trình xử lý dữ liệu liên ngành.
Nhóm thứ ba là ban quản lý các hợp tác xã, doanh nghiệp và nhà đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao. Nghiên cứu giúp nhận diện rõ tiềm năng lợi thế của 3 tiểu vùng sinh thái tại Phú Thọ, tạo tiền đề xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm bền vững.
Nhóm thứ tư là đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã, chi ủy và trưởng thôn bản tại các địa phương đang trong tiến trình xây dựng nông thôn mới. Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn về kỹ năng điều hành, phương pháp tuyên truyền vận động hiến đất và tổ chức giám sát đầu tư cộng đồng hiệu quả.
Câu hỏi thường gặp
Đâu là rào cản lớn nhất trong xây dựng nông thôn mới tại Phú Thọ giai đoạn 2010-2013?
Rào cản lớn nhất là nguồn lực tài chính hạn chế dẫn đến hệ thống hạ tầng giao thông chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Toàn tỉnh có 10.730 km đường giao thông nhưng đường đất chiếm tới 66,53%, trong khi đường trục xã đạt chuẩn mới đạt 28,1%, gây cản trở lớn đến giao thương hàng hóa và thu hút doanh nghiệp đầu tư về nông thôn.
Vì sao tỷ lệ xã đạt tiêu chí thu nhập chỉ đạt 11,7% vào năm 2013?
Nguyên nhân chủ yếu do nguồn vốn giai đoạn đầu bị dàn trải cho hạ tầng xây dựng cơ bản mà chưa tập trung đúng mức vào phát triển sản xuất. Cơ cấu lao động chuyển dịch chậm với 63% lao động vẫn gắn với nông nghiệp truyền thống năng suất thấp, khiến GDP bình quân nông thôn mới đạt 17 triệu đồng/người/năm.
Mô hình quản trị nông thôn mới của Hàn Quốc và Nhật Bản đóng góp bài học gì cho địa phương?
Kinh nghiệm từ Saemaul Undong của Hàn Quốc và OVOP của Nhật Bản chỉ ra rằng Nhà nước chỉ nên đóng vai trò định hướng và hỗ trợ vốn mồi kỹ thuật, người dân phải giữ quyền tự quyết và hưởng lợi trực tiếp từ các sản phẩm đặc sản bản địa để loại bỏ tư tưởng ỷ lại vào ngân sách cấp trên.
Luận văn sử dụng phương pháp khảo sát thực tế như thế nào để đảm bảo tính đại diện?
Tác giả đã triển khai điều tra bảng hỏi với 350 mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 15 xã thuộc 3 vùng địa hình đặc thù gồm vùng núi cao (độ cao trên 800m), vùng trung du và vùng đồng bằng ven sông, kết hợp phỏng vấn sâu 25 cán bộ quản lý tại 13 huyện thị.
Mục tiêu thu nhập và cơ cấu lao động tỉnh Phú Thọ đặt ra đến năm 2020 là gì?
Đến năm 2020, tỉnh định hướng nâng GDP bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt trên 30 triệu đồng/năm, đồng thời chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nhằm giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp từ 63% xuống dưới mức 45% theo đúng chuẩn Tiêu chí 12.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý kinh tế công và hiệu quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, kết hợp đúc rút kinh nghiệm quốc tế từ Hàn Quốc, Nhật Bản và Thái Lan.
- Đánh giá thực trạng tại 247 xã tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010-2013 chỉ ra thành tựu 100% xã phê duyệt quy hoạch, nhưng chỉ có 11,7% xã đạt tiêu chí thu nhập và 8,4% xã đạt tiêu chuẩn về cơ cấu lao động.
- Xác định điểm nghẽn hạ tầng then chốt với 66,53% đường giao thông là đường đất, tỷ lệ kênh mương kiên cố hóa mới đạt 35,11% và trường học đạt chuẩn dừng ở mức 34%.
- Kiến tạo 4 nhóm giải pháp đột phá gồm tái cơ cấu sản xuất gắn với chuỗi giá trị, đa dạng hóa nguồn vốn hạ tầng, đẩy mạnh đào tạo nghề cho trên 10.000 lao động/năm và tăng cường phân cấp dân chủ cơ sở.
- Thiết lập lộ trình hành động giai đoạn 2015-2020 hướng tới mục tiêu hiện đại hóa nông thôn bền vững, nâng thu nhập bình quân nông dân vượt mốc 30 triệu đồng/người/năm.
Kết quả nghiên cứu của luận văn là công trình khoa học có giá trị thực tiễn cao, đóng góp luận cứ vững chắc cho việc hoạch định chính sách kinh tế nông thôn. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm có thể khai thác khung giải pháp này để triển khai hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới tại các địa phương trung du miền núi.