Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả phân tích mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ, sự hài lòng và ý định hành vi Chương 4: Một số hàm ý nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch tại Hà Nội 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan về du lịch di sản văn hóa tại Hà Nội 1. Tổng quan về du lịch 1. Khái niệm du lịch Du lịch ban đầu là hiện tƣợng con ngƣời tạm thời rời xa nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình để khởi hành tới những nơi khác nhằm mục đích tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh, … Cùng với sự phát triển của giao thông, du lịch trở nên dễ dàng, thông suốt hơn và dần trở thành một hoạt động thƣờng xuyên của con ngƣời.
Với du lịch ngày càng phổ biến và phát triển, các hoạt động kinh doanh phục vụ mục đích du lịch của con ngƣời nhƣ môi giới, hƣớng dẫn du lịch, … bắt đầu xuất hiện và dần trở nên phong phú đa dạng. Nhƣ vậy, du lịch đã trở thành một hiện tƣợng kinh tế, xã hội với sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội. Hai học giả Hunziker và Krapf (1982), những ngƣời đặt nền móng cho lý thuyết cung – cầu du lịch, đƣa ra định nghĩa: “Du lịch là tập hợp của các mối quan hệ về các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”. Quan niệm của Hunziker và Krapf đã thể hiện tƣơng đối đầy đủ và bao quát các hiện tƣợng du lịch.
Tuy nhiên, quan niệm này chƣa làm rõ đƣợc đặc trƣng của các hiện tƣợng và mối quan hệ du lịch (các mối quan hệ nào và hiện tƣợng nào thuộc loại kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…). Tháng 6/1991, tại Otawa (Canada), Hội nghị quốc tế về Thống kê Du lịch cũng đƣa ra định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm”. Trong Luật Du lịch Việt Nam (2005), tại điều 4, chƣơng I định nghĩa: “Du lich là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú 7 thường xuyên của mình nhằm đáp đứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Theo Nguyễn Văn Đính (2009), việc đƣa ra đƣợc một định nghĩa cho du lịch sao cho nó vừa mang tính chất bao quát, vừa mang tính chất lý luận và thực tiễn gặp không ít khó khăn nhƣ do cách tiếp cận khác nhau, khác nhau về ngôn ngữ, do tính chất đặc thù của hoạt động du lịch.
Tạo ra sự khác biệt, định nghĩa của Michael Coltman (Hoa Kỳ) nêu ngắn gọn về du lịch: “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch” (Nguyễn Văn Đính, 2009, tr. Có thể thể hiện mối quan hệ đó qua sơ đồ: Nhà cung ứng dịch Du khách vụ du lịch Chính quyền địa Dân cƣ sở tại phƣơng nơi đón du khách Hình 1.1: Mô hình du lịch của Michael Coltman Khoa Du lịch và Khách sạn (Trƣờng Đại học KTQD Hà Nội) đã đƣa ra định nghĩa trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động trên thế giới và ở Việt Nam trong những thập niên gần đây: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu của khách du lịch, Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp” (Nguyễn Văn Đính, 2009). 8 Nhƣ vậy, dựa vào những định nghĩa trên và dƣới những góc nhìn khác nhau của những nhân tố tham gia vào quá trình du lịch, khái niệm du lịch đƣợc tác giả tổng hợp lại nhƣ sau: “Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội với sự tham gia, tương tác giữa khách du lịch, người kinh doanh dịch vụ du lịch, dân cư sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch. Thông qua du lịch, khách du lịch mong muốn thỏa mãn những nhu cầu về vật chất và tinh thần của mình ở ngoài nơi mình thường xuyên cư trú; người làm kinh doanh dịch vụ du lịch có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận; cư dân địa phương có dịp quảng bá văn hóa, tìm kiếm công ăn việc làm; và đây là hoạt động cần có sự quản lý chặt chẽ của chính quyền địa phương.
Khách du lịch, khách du lịch quốc tế Trên thực tế, có nhiều quan niệm khác nhau về khách du lịch. Theo một số nhà nghiên cứu, định nghĩa đầu tiên về khách du lịch xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII tại Pháp: “Khách du lịch là những ngƣời thực hiện một cuộc hành trình lớn”. Vào đầu thế kỷ XX, nhà kinh tế học ngƣời Áo, Josef Stander định nghĩa: “Khách du lịch là những hành khách đi lại, ở lại theo ý thích ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên để thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh tế” (Nguyễn Văn Đính, 2009). Năm 1937, Liên hiệp các quốc gia (League of Nations) đƣa ra định nghĩa về “khách du lịch nước ngoài”: “Bất cứ ai đến thăm một đất nƣớc khác với nơi cƣ trú thƣờng xuyên của minh trong khoảng thời gian ít nhất là 24h”.
Định nghĩa về khách du lịch đƣợc chấp nhận tại Hội nghị tại Roma (Ý) do Liên hợp quốc tổ chức về các vấn đề du lịch quốc tế và đi lại quốc tế (năm 1963). Trong các chuẩn mực thống kê quốc tế của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), khái niệm khách viếng thăm quốc tế có vai trò quan trọng. Tại Hội nghị Roma (1963), khách viếng thăm quốc tế đƣợc hiểu là ngƣời đến một nƣớc, khác nƣớc cƣ trú thƣờng xuyên của họ, bởi mọi nguyên nhân, trừ nguyên nhân đến lao động để kiếm sống. Khái niệm khách viếng thăm quốc tế bao gồm hai thành phần: 9 - Khách du lịch quốc tế (international tourist): là ngƣời lƣu lại tạm thời ở nƣớc ngoài và sống ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của họ trong thời gian ít nhất là 24 giờ (hoặc sử dụng ít nhất một tối trọ).
- Khách tham quan quốc tế (international excursionist): là ngƣời lƣu lại tạm thời ở nƣớc ngoài và sống ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của họ trong thời gian ít hơn 24 giờ (hoặc là không sử dụng một tối trọ nào). Việc tìm hiểu khái niệm khách du lịch, và khách du lịch quốc tế sẽ giúp cho hƣớng điều tra nghiên cứu của đề tài đi đúng trọng tâm, chính xác trong chọn mẫu điều tra, khảo sát và là tiền đề giúp cho quá trình kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu có đủ độ tin cậy và tính thuyết phục cao hơn. Sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách dựa trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng (Lê Thông, 2004, tr. Bên cạnh đó theo Nguyễn Văn Đính (2009), sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, đƣợc tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó.
Theo Michael Coltman: “Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình” (Lê Thông, 2004). Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), sản phẩm du lịch là “tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” (Lê Thông, 2004, tr. Nhƣ vậy, hiểu một cách chung nhất, sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phƣơng tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Theo Lê Thông (2004), điểm chung nhất mà sản phẩm du lịch mang lại cho du khách chính là sự hài lòng.
Nhƣng đó không phải là sự hài lòng nhƣ khi ta mua sắm một hàng hóa vật chất, mà ở đây sự hài lòng do đƣợc trải 10 qua một khoảng thời gian thú vị, tồn tại trong kí ức của du khách khi kết thúc chuyến du lịch. Nhƣ vậy có thể thấy để một sản phẩm du lịch đƣợc coi là hoàn thiện và có thể làm du khách hài lòng, ngay từ đầu ngƣời làm du lịch phải chú ý đến các yếu tố dịch vụ. Điều này sẽ đƣợc làm rõ hơn trong các phần tiếp theo của cơ sở lý luận khi tác giả đề cập đến nội dung chất lƣợng dịch vụ và chất lƣợng dịch vụ du lịch. Các loại hình du lịch Loại hình du lịch “đƣợc hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tƣơng tự, hoặc đƣợc bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức nhƣ nhau, hoặc đƣợc xếp chung theo một mức giá bán nào đó” (Trƣơng Sỹ Quý, 2003).
Dựa vào các tiêu thức phân loại khác nhau, có thể phân du lịch thành các loại hình du lịch khác nhau. - Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi, du lịch đƣợc phân chia thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa. Bản thân du lịch quốc tế lại đƣợc phân thành: du lịch quốc tế chủ động (những ngƣời từ nƣớc ngoài đến một quốc gia nào đó và tiêu ngoại tệ ở đó) và du lịch quốc tế thụ động. Còn du lịch nội địa là hình thức mà điểm xuất phát và điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ một quốc gia.