Chương 1: Cơ sở lý luận về cơ chế phân bổ ngân sách địa phương Chương 2: Thực trạng cơ chế phân bổ NSĐP qua thực tiễn tại tỉnh Nghệ An Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế phân bổ NSĐP giai đoạn 2014-2015, tầm nhìn đến năm 2020. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ PHÂN BỔ NGÂN SÁCH ĐỊA PHƢƠNG 1. Ngân sách địa phƣơng và phân bổ ngân sách địa phƣơng 1. Ngân sách địa phương 1.1 Khái niệm Ngân sách nhà nƣớc NSNN là một phạm trù kinh tế mà sự hình thành và phát triển của nó gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của nhà nước và của tiền tệ.
Nói cách khác, sự ra đời của Nhà nước và tiền tệ là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của NSNN. Ở Việt Nam, khái niệm NSNN của Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi năm 2002 - sau đây gọi là Luật Ngân sách nhà nước năm 2002) đã phản ánh được nội dung cơ bản của ngân sách là toàn bộ các khoản thu, chi; đồng thời nó phản ánh quá trình chấp hành ngân sách; vừa phản ánh tính niên độ của ngân sách, đồng thời thể hiện được tính pháp lý của ngân sách; vừa thể hiện quyền chủ sở hữu ngân sách của Nhà nước, đồng thời thể hiện vị trí, vai trò, chức năng của ngân sách nhà nước để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Theo Luật Ngân sách nhà nước của Việt Nam (sửa đổi năm 2002 và có hiệu lực từ năm 2004), quy định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Hệ thống NSNN gồm NSTW và NSĐP.
Ngân sách địa phƣơng NSĐP là các khoản thu, chi ngân sách của các cấp chính quyền địa phương phù hợp với địa giới hành chính và với hiến pháp, pháp luật; là dự toán thu, chi ngân sách của chính quyền địa phương đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong một thời gian nhất định, đảm bảo điều kiện vật chất cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước ở địa phương. NSĐP thực hiện cân đối các khoản thu và các khoản chi của Nhà nước tại địa phương, cùng NSTW thực hiện vai trò của NSNN, điều tiết vĩ mô nền kinh tế và 9 đảm bảo an sinh xã hội. Thông qua việc huy động các khoản thuế theo pháp luật và sử dụng các nguồn quỹ ngân sách, thực hiện phân bổ chi tiêu, NSĐP góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế của địa phương, định hướng đầu tư, sản xuất kinh doanh trên địa bàn, vùng và lãnh thổ. Như vậy, ngân sách địa phương là toàn bộ các khoản thu, chi của địa phương đã được các cơ quan có thẩm quyền địa phương quyết định để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của địa phương.
10 CHI TIÊU THU NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TT NỘI DUNG A Tổng thu NSNN trên địa bàn A Tổng thu cân đối ngân sách (I+II) I Thu nội địa (thu từ SXKD trong nƣớc) 1 Thu từ doanh nghiệp Trung ương 2 Thu từ doanh nghiệp địa phương 3 Thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài 4 Thu từ khu vực CTN-DV ngoài quốc doanh 5 Lệ phí trước bạ 6 Thuế sử dụng đất nông nghiệp 7 Thuế nhà đất 8 Thuế thu nhập cá nhân 9 Thu phí xăng dầu 10 Thu phí và lệ phí 11 Thu tiền sử dụng đất 12 Thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước 13 Bán tài sản nhà nước 14 Thu khác ngân sách Trong đó: cân đối ngân sách 15 Thu ngân sách xã II Thu thuế XNK B Thu Xổ số kiến thiết 11 CHI TIÊU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TT NỘI DUNG Tổng chi cân đối ngân sách địa phƣơng I Chi đầu tƣ phát triển II Chi thƣờng xuyên 1 Chi trợ giá các mặt hàng chính sách; Chi sự nghiệp kinh tế 2 Chi sự nghiệp Giáo dục và đào tạo 3 Chi sự nghiệp Y tế 4 Chi sự nghiệp Khoa học công nghệ 5 Chi sự nghiệp Văn hoá thông tin 6 Chi sự nghiệp phát thanh truyền hình 7 Chi sự nghiệp thể dục thể thao 8 Cho bảo đảm xã hội 9 Chi quản lý hành chính 10 Chi an ninh quốc phòng địa phương 11 Chi khác ngân sách 12 Chi chuyển nguồn, bố trí nguồn làm lương 13 Trả phí, lãi vay đầu tư 14 Chi lập hoặc bổ sung quỹ dự trữ tài chính 15 CTMT Q gia, CT 135, dự án 5 triệu ha rừng III Dự phòng Nguồn: Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản điều hành NSĐP thường bao gồm: ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, ngân sách xã. Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (từ đây gọi là ngân sách tỉnh) là một bộ phận của ngân sách địa phương. Dự toán thu, chi ngân sách tỉnh được lập theo phân cấp của cơ quan có thẩm quyền, đảm bảo điều kiện vật chất cho việc thực 12 hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước ở cấp tỉnh bao gồm nhiệm vụ của cấp tỉnh và nhiệm vụ của điều hành kinh tế - xã hội của địa phương do tỉnh quản lý. Ngân sách huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (từ đây gọi là ngân sách huyện) là một bộ phận của ngân sách địa phương; dự toán thu, chi ngân sách huyện được lập theo phân cấp của cơ quan có thẩm quyền, đảm bảo điều kiện vật chất cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước ở cấp huyện bao gồm nhiệm vụ của cấp huyện và nhiệm vụ điều hành kinh tế - xã hội của địa phương do huyện quản lý.
Ngân sách xã, phường, thị trấn (từ đây gọi là ngân sách xã) là một bộ phận của ngân sách địa phương; dự toán thu, chi ngân sách xã được lập theo phân cấp của cơ quan có thẩm quyền, đảm bảo điều kiện vật chất cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước ở cấp xã. Ở Việt Nam, hệ thống NSNN được tổ chức theo sơ đồ: (Xem hình 1.1) NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC Ngân sách TW Ngân sách địa phƣơng Ngân sách tỉnh – Ngân sách thành phố thuộc TW Ngân sách thành phố - Ngân sách cấp huyện thuộc tỉnh Ngân sách thị trấn – Ngân sách cấp xã (phƣờng) Hình 1. Hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam Nguồn: Luật Ngân sách Nhà nước 13 Các quốc gia đều có những hình thức tổ chức bộ máy tương thích để tham gia quản lý ngân sách nhà nước và ngân sách của từng địa phương theo những nguyên tắc chung là: tham mưu giúp việc cho Chính phủ quản lý vĩ mô nền kinh tế, quản lý ngân sách trung ương là các Bộ, Ngành, Cục, .; tham mưu giúp việc cho các cấp chính quyền địa phương là các cơ quan cấp Sở, ban ngành tương ứng thuộc chính quyền địa phương. Phân bổ ngân sách địa phương Phân bổ ngân sách là phân chia ngân sách theo những chỉ tiêu, căn cứ và phương pháp tính toán nhất định nhằm đảm bảo cho mỗi cấp có đủ nguồn tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao, giảm thiểu các bất bình đẳng tài chính giữa các vùng, miền.
Thực hiện quản lý ngân sách theo đúng chủ trương, mục tiêu của Nhà nước ở từng thời kỳ. Phân bổ NSĐP là phân chia NSĐP theo những chỉ tiêu, căn cứ và phương pháp tính toán nhất định nhằm đảm bảo cho các cấp, các ngành, các đơn vị dự toán thuộc địa phương quản lý có đủ nguồn tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao theo đúng chủ trương, mục tiêu của chính quyền địa phương trong từng thời kỳ nhất định. Phân bổ NSĐP luôn gắn với quyền lực Nhà nước, luôn gắn với tất cả các hoạt động của nhà nước và địa phương trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Hiệu quả chi ngân sách NSNN và chi NSĐP khác với hiệu quả chi từ doanh nghiệp; hiệu quả chi NSNN và NSĐP được xem xét trên tầm vĩ mô và gắn với mục tiêu kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại.
Phân bổ NSĐP có những đặc trưng sau: Một là, phân bổ NSĐP gắn với bộ máy chính quyền địa phương, thực hiện những nhiệm vụ kinh tế, chính trị và xã hội của Nhà Nước tại các địa phương theo từng thời kỳ. Hai là, phân bổ ngân sách là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu và chi của Nhà nước. Các khoản chi của NSĐP luôn được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô, trên những căn cứ và xác định về hiệu quả 14 về kinh tế, chính trị và xã hội. Việc phân bổ này không thực hiện ở tầm vi mô, mang tính cá nhân.
Vai trò của phân bổ NSĐP NSĐP là một công cụ quản lý quan trọng trong điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô của địa phương, đóng góp chung vào sự phát triển của đất nước. Vai trò của phân bổ NSĐP đặc biệt thể hiện rất rõ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vai trò đó đã được thể hiện cụ thể ở các lĩnh vực sau: Về kinh tế: Chính quyền địa phương tạo các môi trường và điều kiện để xây dựng cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. NSĐP đảm bảo cung cấp kinh phí đầu tư xây dựng và nâng cấp cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp Nhà nước thuộc các ngành kinh tế, các lĩnh vực kinh tế then chốt tại địa phương.
Trên cơ sở đó từng bước làm cho kinh tế nhà nước đảm đương được vai trò chủ đạo nền kinh tế nhiều thành phần tại địa phương. Mặt khác, trong những điều kiện cho phép thì nguồn kinh phí từ NSĐP cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác để các doanh nghiệp đó có cơ sở về tài chính tốt hơn và định hướng kinh doanh có hiệu quả hơn, thúc đẩy phát triển chung tại địa phương. Về mặt xã hội: Thông qua hoạt động phân bổ ngân sách sẽ cấp kinh phí cho tất cả các lĩnh vực hoạt động vì mục đích phúc lợi xã hội. Thông qua công cụ ngân sách, Nhà nước có thể điều chỉnh các mặt hoạt động trong đời sống xã hội.
Thông qua nguồn vốn ngân sách để thực hiện hình thức trợ giá đối với vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; chính sách việc làm, chính sách thu nhập, chính sách bảo trợ xã hội, v. Về thị trường: Thông qua các hoạt động phân bổ NSĐP sẽ góp phần bình ổn giá cả thị trường.