Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn để Trung Quốc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào một số nước châu Á từ năm 2002 đến nay. Chương 3: Một số vấn đề cần lưu ý đối với Việt Nam trong tiếp nhận đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ TRUNG QUỐC ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI 1. Khái niệm về đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (Outward Direct Investment, outbound Direct Investment/ODI, outward Foreign Direct Investment/OFDI) là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được tiếp cận theo tiêu chí dòng vốn đi ra nước ngoài từ nước chủ đầu tư, để phân biệt với dòng vốn FDI đi vào (Inward Direct Investment/IDI, Inward Foreign Direct Investment/IFDI) đối với một nước tiếp nhận/thu hút vốn đầu tư trực tiếp [52]. Theo Nghị định 78/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09.2006 quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, OFDI là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài. Có nhiều định nghĩa về FDI, cụ thể: - Ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa: FDI là việc đầu tư để sở hữu ít nhất 10% vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ở một nước khác [40].
Các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp và hoạt động đầu tư có thể do người nước ngoài sở hữu hoàn toàn hoặc liên doanh giữa nhà ĐTNN và các đối tác đầu tư địa phương. FDI không bao gồm các hoạt động như cấp giấy phép, hợp đồng phụ và đầu tư chứng khoán trong đó nhà ĐTNN không giữ vai trò chi phối hoặc kiểm soát chủ yếu. - Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), FDI được định nghĩa là một khoản đầu tư được thực hiện bởi các doanh nghiệp hoạt động ở nước ngoài nhằm đạt được các mục đích lâu dài [44]. 9 - Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), FDI xảy ra khi nhà đầu tư từ 1 nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
FDI được phân biệt với các công cụ tài chính khác bằng tiêu chí phương diện quản lý. Trong phần lớn trường hợp, các nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ cơ kinh doanh. Trong trường hợp đó, nhà đầu tư thường được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản ở nước ngoài gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" [57]. - Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) định nghĩa: FDI là việc đầu tư có tính chất dài hạn nhằm đem lại lợi ích lâu dài và quyền kiểm soát các doanh nghiệp tại nước sở tại cho nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hay công ty mẹ.
Hình thức FDI mang lại cho nhà đầu tư sự ảnh hưởng đáng kể về phương diện quản lý đối với doanh nghiệp tại nước tiếp nhận đầu tư [25, tr. - Theo Giáo trình Đầu tư quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), FDI là hình thức chủ đầu tư bỏ ra một lượng tài sản đủ lớn để lập cơ sở sản xuất mới hoặc mua lại các cơ sở sản xuất tại nước ngoài và trực tiếp quản lý tài sản đó. Hình thức này còn được gọi là đầu tư phát triển [3, tr. Tóm lại, OFDI hay FDI tiếp cận dưới góc độ dòng vốn đi ra từ nước chủ đầu tư là một hình thức của đầu tư quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn.
FDI chủ yếu được thực hiện từ nguồn vốn tư nhân, vốn của các công ty nhằm mục đích thu được lợi nhuận cao hơn qua việc triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài. Về thực chất, FDI là sự đầu tư của các công ty nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó. Đây là loại hình đầu tư, trong đó chủ đầu tư nước ngoài tham gia đóng góp một số vốn đủ lớn vào việc sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ và cho phép họ trực tiếp tham gia quản lý, điều hành đối tượng đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm chủ yếu sau: (1) Chủ đầu tư có quyền điều khiển, quản lý đối với tài sản đầu tư.
(2) Là hình thức 10 chuyển giao lớn về vốn, công nghệ, nhân lực và trình độ quản lý. (3) Đưa các doanh nghiệp vươn tới các thị trường nước ngoài. (4) Tiêu thụ sản phẩm trực tiếp ở nước ngoài lớn hơn xuất khẩu. (5) Chủ đầu tư có thể sở hữu toàn bộ hoặc một phần tài sản đầu tư.
Nguyên nhân thúc đẩy các nước đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là: (1) Tìm kiếm các nguồn lực sản xuất như nguyên liệu thô, lao động từ các quốc gia có nguồn cung dồi dào (OFDI tìm kiếm nguồn lực). Các nước chủ đầu tư hướng đến các nước đang phát triển sở hữu các mỏ than, dầu, gỗ, cây lương thực, lao động dồi dào, giá rẻ… (2) Giành quyền tiếp cận các thị trường quan trọng (OFDI tìm kiếm thị trường). Đây là nguyên nhân cơ bản thúc đẩy các quốc gia phát triển cạnh tranh lẫn nhau để vào được thị trường Trung Quốc nhằm tiếp cận trực tiếp với thị trường nội địa lớn, có lực lượng lao động dồi dào, chi phí nhân công rẻ. Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện theo hai kênh chủ yếu: đầu tư mới (Greenfield Investment/GI) và mua lại và sáp nhập (Mergers and Accquisitions/M&A).
Đầu tư mới là các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI. Đầu tư theo kênh M&A là các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại và sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Xét theo mục đích đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài được phân thành hai loại: đầu tư theo chiều ngang (horizontal intergration/HI) và đầu tư theo chiều dọc (vertical intergration/VI).
Đầu tư theo chiều ngang là chủ đầu tư có lợi thế cạnh tranh (công nghệ, kỹ năng quản lý…) trong sản xuất một sản phẩm nào đó tiến hành chuyển đầu tư ra nước ngoài để mở rộng và thôn tính thị trường ở nước ngoài với cùng loại sản phẩm (khai thác lợi thế độc quyền). Đầu tư theo chiều dọc là hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với 11 mục đích khai thác tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố sản xuất đầu vào rẻ (lao động, đất đai, thuế…). Các hình thức phổ biến của đầu tư trực tiếp nước ngoài là: (1) Hợp đồng hợp tác kinh doanh là một văn bản được ký kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước nhận đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà mà không thành lập pháp nhân. (2) Doanh nghiệp liên doanh được thành lập giữa một bên là thành viên của nước nhận đầu tư và một bên là các chủ đầu tư nước ngoài để đầu tư, kinh doanh tại nước chủ nhà.
(3) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức nhà đầu tư nước ngoài tự thành lập, quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh tại nước nhận đầu tư. Vai trò của đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài đối với nƣớc đầu tƣ Ở góc độ nước chủ đầu tư, việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (OFDI) có vai trò quan trọng đối với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng cường vị thế, ảnh hưởng tại khu vực, quốc gia mà nước đó thực hiện đầu tư. Về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vai trò của OFDI được thể hiện trên các khía cạnh: Thứ nhất, OFDI giúp cho các nước chủ đầu tư sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước, nâng cao tỷ suất lợi nhuận đầu tư, đồng thời khai thác có hiệu quả lợi thế của quốc gia trên trường quốc tế. Theo đó, việc mở rộng và phát triển hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển các nguồn lực ra khỏi phạm vi của một quốc gia (đối với các nước phát triển, OFDI nhằm giải quyết áp lực dư thừa nguồn lực tài chính trong nước và gia tăng lợi nhuận).
Trong môi trường đó, các nhà đầu tư có thể lựa chọn môi trường và lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài thuận lợi hơn ở trong nước để có lợi nhuận cao hơn. OFDI còn giúp nhà đầu tư đạt được hiệu quả kinh tế nhờ mở rộng quy mô sản xuất, khắc phục được xu hướng giảm sút lợi nhuận trong nước khi thị trường bị giới hạn, môi trường đầu tư không thuận lợi, đồng thời còn cho phép các doanh nghiệp của nước chủ đầu tư kéo 12 dài chu kỳ sống của các sản phẩm được tạo ra trong nước khi các sản phẩm này bước vào giai đoạn bão hòa và suy thoái, thậm chí là chuyển giao các công nghệ đã lạc hậu sang các thị trường kém phát triển hơn để thu lợi nhuận. Thứ hai, OFDI giúp các nước chủ đầu tư tận dụng các điều kiện thuận lợi ở nước ngoài, nhất là có thể hạ thấp chi phí sản xuất, xây dựng thị trường cung ứng đầu vào ổn định với giá thấp hơn giá khai thác trong nước hay giá nhập khẩu các đầu vào đó, khai thác nguồn lao động với giá rẻ. Để thực hiện mục tiêu này, các nước thường đầu tư mới thông qua con đường cắm nhánh ở nước ngoài, tức là xây dựng các cơ sở sản xuất mới ở nước tiếp nhận đầu tư.
Hầu hết các quốc gia thiếu tài nguyên hay nhân lực, hoặc thiếu cả hai (điển hình là Nhật Bản), đều coi OFDI là giải pháp chiến lược nhằm bù đắp các thiếu hụt trong nước. Với việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, nhất là vào các nước đang và kém phát triển, nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên, nhưng thiếu công nghệ để khai thác, lao động dồi dào, chi phí thấp, các nước chủ đầu tư vừa phát triển được đầu tư ở nước ngoài, vừa tạo nguồn cung đầu vào ổn định cho sản xuất trong nước. Thứ ba, OFDI giúp nước chủ đầu tư mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, vượt qua các rào cản thương mại.