Tổng quan nghiên cứu

Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) giữ vai trò huyết mạch trong hệ thống năng lượng Việt Nam khi quản lý hơn 19.123 km đường dây và 106 trạm biến áp với tổng dung lượng máy biến áp đạt 55.801 MVA, tăng gần 90% so với thời điểm thành lập năm 2008. Với tổng tài sản quản lý vượt mốc 74.000 tỷ đồng và vốn điều lệ đạt 22.260 tỷ đồng, EVNNPT đã và đang triển khai hàng loạt dự án hiện đại hóa như hệ thống điều khiển máy tính, giám sát dầu online, định vị sự cố đường dây và trạm biến áp không người trực.

Tuy nhiên, thực tế triển khai cho thấy doanh nghiệp đang phụ thuộc hơn 80% vào các nhà thầu tư vấn và nhà sản xuất thiết bị gốc nước ngoài. Sau khi các công trình hoàn thành, đội ngũ kỹ sư trong nước chủ yếu chỉ dừng lại ở mức độ vận hành theo chỉ dẫn kỹ thuật có sẵn mà chưa thực sự làm chủ được công nghệ lõi. Tình trạng này dẫn đến sự bị động lớn trong công tác bảo dưỡng, khắc phục sự cố, hiệu chỉnh logic điều khiển và mở rộng hệ thống truyền tải.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng chuyển giao công nghệ cao, xác định các điểm nghẽn trong thể chế, nhân sự, kỹ thuật, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng chuyển giao công nghệ tại EVNNPT giai đoạn 2016-2020. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các dự án công nghệ cao có yếu tố chuyển giao quyền sử dụng từ nước ngoài thuộc 4 Công ty Truyền tải điện (PTC1, PTC2, PTC3, PTC4).

Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để EVNNPT cải thiện các chỉ số hiệu suất trọng yếu như độ tin cậy cung cấp điện, giảm tổn thất điện năng xuống dưới mức 2,5%, tiết kiệm hàng chục tỷ đồng chi phí thuê chuyên gia nước ngoài và hiện thực hóa mục tiêu xây dựng lưới điện thông minh theo Quyết định số 1855/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết năng lực công nghệ của Sanjaya Lall (1992) và Martin Fransman (1984), chia năng lực công nghệ của doanh nghiệp thành 4 cấp độ kế tiếp nhau: năng lực tìm kiếm lựa chọn, năng lực hấp thu vận hành, năng lực thích nghi cải tiến và năng lực đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp mô hình đánh giá thành phần công nghệ của Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) với 4 cấu phần cơ bản gồm: phần cứng thiết bị (Technoware), con người và kỹ năng (Humanware), thông tin và tài liệu giải pháp (Inforware), cơ cấu tổ chức và thể chế quản lý (Orgaware).

Nghiên cứu cũng kế thừa mô hình chuyển giao công nghệ gắn liền với quản trị tri thức của Mostafa Jafari, Peyman Akhavan và Abbass Rafiei (2014) để phân tích sự tương tác giữa khả năng tiếp thu của doanh nghiệp và hiệu quả chuyển giao. Các khái niệm nền tảng được định hình theo Luật Chuyển giao công nghệ số 80/2006/QH11, bao gồm: chuyển giao quyền sử dụng công nghệ cao, hệ thống điều khiển phân tán (DCS), giao thức truyền thông tiêu chuẩn IEC 61850 và thiết bị điện tử thông minh (IED).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp và sơ cấp nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu thực tiễn. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hơn 20 báo cáo kỹ thuật, đề án phát triển lưới điện thông minh giai đoạn 2016-2020 và lộ trình công nghệ thông tin 10 năm của EVNNPT. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích với quy mô cỡ mẫu gồm 27 chuyên gia và cán bộ chủ chốt. Cơ cấu mẫu được phân bổ khoa học: 2 lãnh đạo cấp cao Tổng công ty, 5 chuyên viên quản lý dự án đầu tư xây dựng, 10 kỹ sư chuyên trách sửa chữa thí nghiệm, 5 cán bộ vận hành trạm biến áp và 5 chuyên gia tích hợp hệ thống từ các hãng sản xuất thiết bị gốc.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp phân tích so sánh đối chuẩn và thống kê mô tả là vì EVNNPT là doanh nghiệp giữ vị thế độc quyền tự nhiên trong lĩnh vực truyền tải điện tại Việt Nam. Cách tiếp cận này cho phép bóc tách chi tiết các rào cản về cơ chế mua sắm, năng lực nội sinh và văn hóa tổ chức mà các mô hình kinh tế lượng đơn thuần khó lượng hóa đầy đủ. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý số liệu được tiến hành liên tục trong thời gian 12 tháng từ đầu năm 2016 đến tháng 2 năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, năng lực tiếp nhận công nghệ cao tại EVNNPT hiện mới chỉ dừng lại ở cấp độ vận hành cơ bản. Khảo sát thực tế cho thấy khoảng 85% các sự cố phức tạp liên quan đến thuật toán phần mềm SCADA/DCS và bảo vệ rơ-le số thông minh tại các trạm 220kV - 500kV đều phải thuê chuyên gia nước ngoài hoặc nhà thầu tích hợp hỗ trợ xử lý với chi phí trung bình từ 3.000 đến 5.000 USD cho mỗi đợt công tác.

Thứ hai, cơ cấu nguồn nhân lực công nghệ cao bộc lộ sự mất cân đối rõ rệt. Trong tổng số 7.668 cán bộ nhân viên toàn Tổng công ty năm 2015, khối các công ty truyền tải trực tiếp chiếm 7.023 người nhưng tỷ lệ kỹ sư được đào tạo chuyên sâu đúng chuyên ngành tự động hóa và công nghệ thông tin đạt dưới 8%. Đội ngũ kỹ sư làm chủ sâu về cấu hình IED và truyền thông IEC 61850 chỉ chiếm chưa đầy 3% tổng số lao động kỹ thuật.

Thứ ba, phương thức chuyển giao chủ yếu thông qua hình thức hợp đồng chìa khóa trao tay kết hợp đào tạo tại chỗ ngắn hạn từ 7 đến 14 ngày. Hình thức này khiến hiệu quả hấp thu tri thức công nghệ chỉ đạt ước tính khoảng 30% đến 40%, bên tiếp nhận hoàn toàn không có khả năng can thiệp vào mã nguồn điều khiển hay tối ưu hóa hệ thống.

Thứ tư, công tác lưu trữ và quản trị tri thức còn phân mảnh nghiêm trọng. Hơn 70% tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, sơ đồ logic điều khiển và cơ sở dữ liệu vận hành chưa được chuẩn hóa tập trung, dẫn đến nguy cơ mất mát dữ liệu và gián đoạn tri thức chuyên môn khi có sự điều chuyển nhân sự.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ việc trong các dự án đầu tư xây dựng trước đây, tỷ trọng ngân sách dành cho đào tạo chuyên sâu và chuyển giao tri thức chỉ chiếm từ 1,5% đến 2% tổng mức đầu tư, phần lớn kinh phí tập trung cho phần cứng thiết bị. Điều này tạo ra khoảng cách lớn giữa tốc độ hiện đại hóa máy móc và năng lực hấp thu của con người.

Khi so sánh với kinh nghiệm của Cơ quan Điện lực Thái Lan (EGAT) hay Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc (KEPCO), việc EVNNPT duy trì phương thức đào tạo tại chỗ phân tán thay vì đào tạo tập trung tại phòng thí nghiệm chuyên dụng đã làm kéo dài thời gian làm chủ công nghệ lên gấp 2 đến 3 lần. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa rất rõ ràng thông qua biểu đồ mạng nhện biểu diễn 4 thành phần công nghệ, cho thấy cấu phần Technoware đạt điểm số cao (khoảng 75-80%), trong khi Humanware và Inforware chỉ đạt mức trung bình yếu (khoảng 35-42%). Đồng thời, bảng tổng hợp phân loại hệ thống điều khiển theo từng hãng sản xuất (Siemens, ABB, Toshiba, Alstom) trên 106 trạm biến áp phản ánh sự đa dạng quá mức về chủng loại thiết bị, làm gia tăng chi phí tích hợp và gây khó khăn cho việc xây dựng một quy chuẩn vận hành thống nhất.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và chuẩn hóa tiêu chuẩn kỹ thuật công nghệ. EVNNPT cần ban hành bộ tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng thống nhất cho toàn bộ hệ thống trạm biến áp số và trung tâm điều khiển xa dựa trên giao thức IEC 61850 và IEC 60870-5-104. Ban Kỹ thuật và Ban Quản lý Xây dựng cần đưa điều khoản bắt buộc về chuyển giao phần mềm cấu hình, sơ đồ thuật toán và đào tạo chuyên sâu vào 100% hồ sơ mời thầu các dự án mới trong giai đoạn 2017-2018.

Thứ hai, thành lập Trung tâm Tự động hóa và Công nghệ thông tin trực thuộc EVNNPT. Đơn vị này cần được xây dựng với quy mô từ 50 đến 70 kỹ sư chất lượng cao trong giai đoạn 2017-2019, đóng vai trò là lực lượng nòng cốt tiếp nhận chuyển giao, nghiên cứu thử nghiệm và tự thực hiện trên 80% công tác bảo dưỡng, mở rộng các hệ thống SCADA/DCS thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào dịch vụ thuê ngoài.

Thứ ba, đổi mới căn bản chương trình đào tạo và áp dụng mô hình quản trị tri thức. Ban Tổ chức và Nhân sự cần phối hợp với các đơn vị trực thuộc chuyển đổi từ đào tạo ngắn hạn sang cử tối thiểu 30-40 lượt kỹ sư tinh hoa đi đào tạo chính quy tại các hãng sản xuất thiết bị gốc nước ngoài với thời gian từ 1 đến 3 tháng. Đặt mục tiêu đến năm 2020 nâng tỷ lệ kỹ sư làm chủ công nghệ tự động hóa tại các công ty truyền tải lên trên 60%, đồng thời thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu tri thức nội bộ để số hóa 100% tài liệu hướng dẫn kỹ thuật.

Thứ tư, đầu tư cơ sở vật chất và phòng thí nghiệm mô phỏng hiện đại. EVNNPT cần bố trí nguồn vốn khoảng 15 đến 20 tỷ đồng trong giai đoạn 2018-2020 để xây dựng phòng thí nghiệm mô phỏng hệ thống điều khiển và bảo vệ rơ-le. Cơ sở này cho phép đội ngũ kỹ sư thực hành cấu hình, giả lập sự cố lưới điện và kiểm tra tính tương thích của thiết bị trước khi lắp đặt thực tế trên lưới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Ban lãnh đạo và cán bộ quản lý chiến lược tại EVN, EVNNPT và các Tổng công ty Điện lực khu vực. Nghiên cứu cung cấp góc nhìn toàn diện để định hình chính sách đầu tư khoa học công nghệ, xây dựng điều khoản hợp đồng mua sắm thiết bị và tối ưu hóa hàng trăm tỷ đồng ngân sách chuyển giao công nghệ hàng năm.

Nhóm 2: Các giám đốc quản lý dự án, kỹ sư trưởng và chuyên viên kỹ thuật tự động hóa - viễn thông trong ngành điện. Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn về quy trình tiếp nhận công nghệ SCADA/DCS, cách thức chuẩn hóa giao thức quốc tế IEC và phương pháp phân tích, khắc phục các sự cố kỹ thuật phức tạp tại trạm biến áp 220kV - 500kV.

Nhóm 3: Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ. Luận văn là nguồn dữ liệu thực chứng giá trị về thực trạng hấp thu công nghệ tại các doanh nghiệp hạ tầng trọng yếu, giúp hoàn thiện khung pháp lý về chuyển giao công nghệ và chính sách bảo hộ tài sản trí tuệ trong thời kỳ hội nhập.

Nhóm 4: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Quản trị công nghệ, Quản trị kinh doanh và Hệ thống điện. Công trình mang đến một mô hình nghiên cứu tình huống điển hình, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết quản trị hiện đại và kỹ thuật chuyên ngành để phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu học thuật.

Câu hỏi thường gặp

Chuyển giao công nghệ cao trong lĩnh vực truyền tải điện có đặc thù gì khác biệt? Công nghệ truyền tải điện đòi hỏi mức độ vận hành liên tục và an toàn tuyệt đối suốt 24/7, gắn liền với an ninh năng lượng quốc gia. Quá trình chuyển giao có độ phức tạp kỹ thuật rất cao, chi phí đắt đỏ và phụ thuộc lớn vào hệ thống bản quyền đóng của các tập đoàn sản xuất thiết bị điện tử đa quốc gia.

Tại sao hình thức đào tạo On-Job Training truyền thống không còn mang lại hiệu quả cao tại EVNNPT? Phương thức đào tạo tại chỗ chỉ giúp người học nắm bắt thao tác vận hành bề nổi theo tình huống sẵn có mà không cung cấp kiến thức nền tảng về cấu trúc phần mềm, thuật toán điều khiển và giao thức truyền tin. Khi xảy ra sự cố phần mềm bất thường, kỹ sư vận hành hoàn toàn không đủ khả năng xử lý độc lập.

Mô hình 4 thành phần công nghệ Atlas đóng góp gì cho việc phân tích thực trạng của doanh nghiệp? Mô hình giúp nhận diện sự mất cân đối nghiêm trọng giữa nguồn lực đầu tư: EVNNPT sở hữu khối tài sản phần cứng (Technoware) hiện đại trị giá hơn 74.000 tỷ đồng, nhưng năng lực con người (Humanware), hệ thống tư liệu (Inforware) và cơ chế thể chế (Orgaware) chưa được đầu tư tương xứng, dẫn đến hiệu suất khai thác công nghệ bị hạn chế.

Việc thành lập Trung tâm Tự động hóa và Công nghệ thông tin mang lại lợi ích định lượng nào? Trung tâm giúp tập trung từ 50 đến 70 chuyên gia đầu ngành, cho phép EVNNPT tự chủ thực hiện trên 80% công tác bảo dưỡng, cấu hình và tích hợp hệ thống SCADA/DCS. Giải pháp này giúp cắt giảm từ 30% đến 50% chi phí thuê dịch vụ ngoài và rút ngắn thời gian xử lý sự cố lưới điện xuống một nửa.

Luận văn giải quyết vấn đề rủi ro chảy máu chất xám sau đào tạo công nghệ cao như thế nào? Nghiên cứu đề xuất ký cam kết phục vụ tối thiểu từ 3 đến 5 năm đối với nhân sự được cử đi đào tạo chính quy ở nước ngoài, song song với việc xây dựng chính sách đãi ngộ linh hoạt theo chỉ số hiệu quả công việc và tạo môi trường làm việc sáng tạo tại các phòng thí nghiệm mô phỏng.

Kết luận

  • Hệ thống hóa thành công khung lý luận về năng lực công nghệ và chuyển giao công nghệ cao gắn với quản trị tri thức trong doanh nghiệp nhà nước đặc thù.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng chuyển giao công nghệ trên hệ thống 106 trạm biến áp và 19.123 km đường dây truyền tải điện của EVNNPT.
  • Nhận diện chính xác 4 điểm nghẽn cốt lõi về thể chế đấu thầu, sự phân tán chủng loại thiết bị, thiếu hụt nhân lực chuyên sâu và phân mảnh tài liệu kỹ thuật.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá với trọng tâm là thành lập Trung tâm Tự động hóa - Công nghệ thông tin và chuẩn hóa giao thức quốc tế IEC 61850.
  • Xây dựng lộ trình triển khai chi tiết cho giai đoạn 2016-2020, tạo tiền đề vững chắc cho việc phát triển lưới điện thông minh tại Việt Nam.

Luận văn của tác giả Mai Anh Tuấn dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Bùi Xuân Phong là công trình học thuật tiên phong giải quyết hài hòa bài toán giữa quản trị công nghệ và kỹ thuật vận hành hệ thống điện quốc gia. Trong giai đoạn 2017-2020, Ban lãnh đạo EVNNPT cần khẩn trương cụ thể hóa các giải pháp thể chế và phân bổ ngân sách đào tạo để chuyển hóa tri thức thành năng lực nội sinh, bảo đảm vận hành lưới điện an toàn, tin cậy và tự chủ bền vững.