Chương 1: Vấn đề giới và sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975. - Chương 2: Tinh thần phê phán đối với văn hóa nam quyền và ý thức nữ quyền của tác giả. - Chương 3: Nghệ thuật kể chuyện. Đóng góp của luận văn - Về mặt lí luận: Luận văn khẳng định tính khả thi - hiệu quả của phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn chương từ góc nhìn văn hoá, lý luận về giới trong bối cảnh xã hội nam quyền.
- Về thực tiễn: Đề tài đã góp phần giải quyết những tình huống trong tiếp nhận khi bổ sung cách đọc từ góc nhìn văn hóa ứng xử giới để đọc và giảng dạy truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 10 NỘI DUNG Chƣơng 1 VẤN ĐỀ GIỚI VÀ SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN MINH CHÂU THỜI KỲ SAU NĂM 1975 Như trên đã nói, chúng tôi dành chương đầu tiên này để giới thuyết về về vấn đề Giới và Sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 để làm cơ sở cho những phân tích và kiến giải ở những chương sau. Vấn đề Giới Để tạo tiền đề nghiên cứu Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa từ lý luận về giới, chúng tôi đi vào triển khai vấn đề về giới trong bối cảnh xã hội nam quyền ở Việt Nam, đồng thời sơ lược diện mạo ứng xử giới trong văn học Việt Nam. Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn tạo điểm tựa khoa học cho chúng tôi nghiên cứu đề tài.1 Khái niệm giới (Gender) Trong nghiên cứu khoa học, giới là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến ở nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Tùy theo hướng tiếp cận và mục đích ở mỗi ngành sẽ có cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này.
Ở đây, chúng tôi dùng khái niệm giới tương đương với khái niệm gender trong tiếng Anh (Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia dịch: gender là giới tính xã hội). Trong thực tiễn, thuật ngữ giới (gender) thường bị sử dụng nhầm lẫn với giới tính (sex). Giới tính (sex) chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học, gen và các yếu tố di truyền khác (Trung văn dịch là tính) thì giới chỉ về sự kiến tạo xã hội về văn hóa đối với sự khác biệt giữa nam và nữ, nói cách khác giới là khái niệm chỉ đặc trưng xã hội gán cho nam và nữ. Gender xem xét giới tính trên phương diện xã Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 11 hội, do đó giới là sản phẩm mang tính xã hội - văn hóa.
Ở mỗi nền văn hóa, mỗi một thời đại thì nam nữ lại có một cách ứng xử giới riêng, có một hệ giá trị riêng. Ở phương Tây, vào năm 1949 nữ nhà văn Pháp Simone de Beauvoir cho rằng người phụ nữ và nam giới không phải bẩm sinh mà có, họ là sản phẩm của văn hóa xã hội. Trong cuốn Giới thứ hai (The second sex) bà đã đưa ra một luận điểm rất nổi tiếng : “Người ta không sinh ra đã là phụ nữ, người ta trở thành phụ nữ”. Về mặt bẩm sinh, con người chỉ là đàn ông hay đàn bà theo nghĩa giải phẫu sinh lý.
Chỉ trong quá trình sống, tương tác xã hội, tương tác đàn ông-đàn bà, do kết quả của văn hóa giáo dục trong gia đình, nhà trường và xã hội mà dần dần hình thành người phụ nữ hay người nam giới với tâm lý, hành vi, ngôn ngữ, ứng xử riêng. Văn hóa ứng xử giới thay đổi trong không gian và trong thời gian. Chúng ta tưởng là về bản chất, người phụ nữ e lệ, rụt rè, nhưng hóa ra không phải thế. Nếu sang các nước Tây Âu hay Mỹ, ta sẽ thấy ở đó, phụ nữ rất mạnh mẽ, tự tin, khác với phụ nữ Việt Nam.
Ngày xưa, ca dao tục ngữ “kích động” tinh thần nam quyền ở người chồng Làm trai rửa bát quét nhà, Đến khi vợ gọi bẩm bà con đây , phó mặc mọi việc nhà cho vợ. Nhưng ngày nay, có rất nhiều người chồng sẵn sàng chia xẻ việc nhà với vợ trên tinh thần bình đẳng 1. Văn hóa ứng xử giới trong xã hội Việt Nam Xã hội Việt Nam được các nhà nghiên cứu định danh là xã hội nam quyền, do đó văn hóa ứng xử giới mang đặc điểm nam quyền (trước đây gọi là “phụ quyền” - nhưng khái niệm phụ quyền thiên về quyền lực của người cha, sự chuyên quyền của người nam giới lãnh đạo gia đình). Thuật ngữ nam quyền được hiểu là sự xác lập quyền lực thống trị tuyệt đối của nam giới với người phụ nữ trên tất cả mọi phương diện: chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, kể cả thống trị thân thể phụ nữ theo nghĩa đen.
Quyền lực thống trị được thể hiện ở cả trên phương diện thể xác và tinh thần. Về thân thể, nam quyền là sự thể hiện sức mạnh nam giới bằng sự áp chế người phụ nữ bằng bạo lực, bằng sự đánh đập,… Còn về tinh thần nam quyền thể thiện ở việc người đàn ông định ra những Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 12 chuẩn mực về văn hóa chính trị, đạo đức, thẩm mỹ… bắt buộc người phụ nữ phải tuân theo. Tư tưởng nam quyền tạo nên sự bất công trong cách nhìn nhận và đánh giá, ứng xử của nam giới đối với nữ giới và chi phối cả cách nhìn và ứng xử của chính người phụ nữ với bản thân mình. Về căn bản, có thể khẳng định: văn hóa ứng xử giới ở Việt Nam là nam quyền.
Tình trạng ứng xử giới theo quan điểm nam quyền như trên không chỉ có ở Việt Nam mà đó còn là tình trạng chung ở các quốc gia, dân tộc trên thế giới, nghĩa là thế giới nói chung cũng đều có xu hướng nam quyền hóa. Có điều là các dân tộc giải quyết ra sao với tình trạng nam quyền, khi nào ở một dân tộc, nam quyền bị chấm dứt hay bị lên án. Ở Ấn Độ, nhiều tài liệu cho thấy, đàn ông hay tấn công tình dục đối với phụ nữ. Ở các nước Tây Âu, gần đây có hiện tượng tấn công tình dục phụ nữ Đức, Pháp… bởi những đàn ông nhập cư đến từ Trung Đông, những quốc gia có văn hóa nam quyền rất mạnh.
Tập tính văn hóa ăn sâu vào tư duy, hành động không dễ gì thay đổi. Về bản chất nam quyền trong xã hội mẫu hệ như xã hội người Chăm, chúng tôi khảo sát phóng sự ngắn Một ngày ở xứ Chàm của Tam Lang đăng trên Tri Tân tạp chí, năm 1941 và nhận thấy dù xã hội Chăm theo mẫu hệ nhưng người đàn bà Chăm vẫn phải đối mặt và chấp nhận cách ứng xử nam quyền từ phía những ông chồng: “Người Chàm, nhất là đàn ông, không hay dậy sớm”, bởi “Tục Chàm trước vẫn lấy nửa cuối ngày hôm trước làm ngày và nửa sáng ngày hôm sau làm đêm”; “cứ đúng 12 giờ tí (12 giờ đêm), người trong xóm mới đi ngủ cho đến mãi giờ ngọ (12 giờ trưa) hôm sau, họ mới dậy làm việc hoặc ngồi suông”. Nhưng với người đàn bà Chăm đã bỏ tục này, vì nó không phù hợp với giờ giấc của người Việt quanh vùng họ chung sống. Thay vì được ngủ đến 12 giờ trưa như chồng mình, những người đàn bà Chăm phải dậy từ sớm và làm tất cả công việc trong gia đình, tất bận từ sáng sớm đến sẩm tối: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 13 “Trong gia - đình Chàm, chỉ có người đàn bà mới suốt ngày bận rộn.
Từ sáng đến tối họ làm hết công - việc khó nhọc như ra đồng cấy gặt, ra tỉnh mua bán, và tiếp khách, dệt vải, se bông. Sẩm tối, khi công việc đã ngớt, người đàn bà Chàm, đầu đội chiếc bình lớn, lại ra song, lạch, vợi nước về dùng. Quần quật suốt ngày thế mà không bao giờ họ có một tiếng phàn - nàn về chồng con là những kẻ suốt ngày ăn xong lại nằm, nằm chán chạy nhông hoặc mơ màng ngồi hút thuốc”.20] Người đàn bà Chàm còn luôn nhường nhịn cho chồng, cho con mọi thứ: họ ăn bốc, họ chỉ ăn cơm cháy hay cái đầu cá, đuôi cá ươn,. “Lúc ngồi quanh một mâm cơm, người đàn ông Chàm dùng đũa gắp thức ăn.
Còn người đàn bà Chàm ? chỉ dùng năm ngón để bốc ! Cách ăn bốc ấy lâu ngày trở thành bất di bất dịch cho đến bây giờ, dù trong nhà thừa đũa bát, người đàn - bà cũng không muốn dùng đũa bát gắp đỡ thức ăn. Sáng dậy, sau khi rửa mặt, việc làm thứ nhất của người đàn bà Chăm là săn -sóc đến bữa ăn sớm cho chồng, con. Họ nấu cơm ngô hay cơm gạo, đun nồi cá ươn mà họ gọi là “cá liệt”, đánh những cơm sườn cơm cháy và bẻ những đầu cá, đuôi cá ăn trước để ra làm việc ngoài đồng trong lúc chồng với con họ còn ngủ kỹ trên sàn đến lúc mặt trời đứng bóng”.20] Ngoài những tục ấy, người đàn ông chàm còn lười biếng tới mức “ngồi dơ đầu ra cho vợ bắt chấy hoặc gỡ hộ tóc”; “quẳng quần áo ra cho vợ vắt dậu” hay “nhờ vợ gắp mẩu than hồng ở bếp lên để hút thuốc chớ họ không chịu cất công cầm thoi sắt đánh vào hòn đá lửa để ngay bên cạnh mình.” Qua phóng sự, ta thấy ứng xử giới của đàn ông chăm với phụ nữ chăm thể hiện sự bất bình đẳng giới. Những người đàn ông Chăm lười nhác đã dựa vào Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 14 những phong tục có lợi cho mình để được nhàn nhã bản thân, họ để mặc cho vợ mình phải lao động cực nhọc và vất vả trên tinh thần “Đàn ông lo việc ngoài nhà, đàn bà lo việc trong gia đình” mà xã hội Chăm vẫn duy trì.
Chính những lệ - tục này khiến người phụ nữ Chăm còn khổ cực gấp nhiều lần người phụ nữ Việt. Trong xã hội người Việt truyền thống, tính chất nam quyền cũng dễ dàng nhận thấy cả về phương diện ứng xử thể chất và tinh thần của nam giới đối với nữ giới. Về thể chất, tình trạng “bạo lực gia đình” như cách nói ngày nay diễn ra phổ biến nhưng ca dao đã khuyên những người vợ ứng xử thế nào với đòn đánh của chồng : Chồng giận thì vợ làm lành, Miệng cười hớn hở rằng anh giận gì. Rồi thì Chồng giận thì vợ bớt lời, Cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê, bởi vì nếu người phụ nữ lên tiếng bảo vệ lẽ phải của mình, cự cãi có thể dẫn đến hệ quả bạo lực Chồng giận thì vợ bớt lời/Chồng giận vợ giận thì dùi nó quăng.