Chương I: Một số vấn đề lý luận về tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt. Chương II: Thực trạng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2008 - 2014. Chương III: Quan điểm hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về tổng hợp hình phạt trong những trường hợp đặc biệt. 7 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔNG HỢP HÌNH PHẠT TRONG NHỮNG TRƢỜNG HỢP ĐẶC BIỆT 1.
Khái niệm và ý nghĩa của tổng hợp hình phạt. Khái niệm tổng hợp hình phạt. Theo quy định tại Điều 26 BLHS “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội…”. Đối với mỗi hành vi phạm tội được đưa ra xét xử, Tòa án phải lựa chọn loại hình phạt cụ thể (bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định cũng như các hình thức thực hiện trách nhiệm hình sự khác để áp dụng đối với người phạm tội [9, tr.
Trong thực tế, có trường hợp một người phạm những tội khác nhau được quy định trong BLHS bị phát hiện và đưa ra xét xử cùng một lần và bị Toà án tuyên nhiều hình phạt (trường hợp phạm nhiều tội) hoặc có trường hợp một người đang chấp hành một bản án lại bị đưa ra xét xử về một tội mà người đó đã phạm trước hoặc sau khi có bản án đang chấp hành (trường hợp có nhiều bản án), vì vậy, Tòa án phải tổng hợp các hình phạt đã tuyên thành hình phạt chung để người bị kết án chấp hành hình phạt và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, tác giả xin đưa ra khái niệm về tổng hợp hình phạt như sau: Tổng hợp hình phạt là trường hợp mà Tòa án quyết định hình phạt đối với người phạm tội phải chấp hành từ hai hình phạt chính trở lên (có thể bao gồm cả hình phạt bổ sung) thành hình phạt chung. Trong BLHS Việt Nam năm 1999 có quy định các trường hợp khi xét xử Toà án phải tổng hợp hình phạt gồm các trường hợp quy định chung là: 8 z Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội; Tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án và các trường hợp đặc biệt là:Tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội và Tổng hợp hình phạt trong các trường hợp liên quan đến án treo. Để việc tổng hợp hình phạt có căn cứ, đúng pháp luật, công minh với người bị kết án, Tòa án phải tuân thủ các quy tắc cơ bản của Luật hình sự Việt Nam như: Nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc công minh, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm, nguyên tắc lỗi và nguyên tắc trách nhiệm cá nhân [Xem: 7, tr.
Các nguyên tắc trên là tư tưởng chỉ đạo được thể hiện qua các nội dung cơ bản của BLHS, xác định và định hướng hoạt động của Tòa án trong việc tổng hợp hình phạt đối với người bị kết án. Vì vậy phải nhận thức đúng đắn và vận dụng chính xác, thống nhất các nguyên tắc đó khi tổng hợp hình phạt. Ý nghĩa của tổng hợp hình phạt Tổng hợp hình phạt là một chế định pháp lý bảo đảm tính công bằng và nghiêm minh đối với người phạm tội. Do vậy, việc nhận thức đúng đắn và áp dụng chính xác những quy định về tổng hợp hình phạt sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần giữ gìn trật tự xã hội.
Cụ thể tổng hợp hình phạt có những ý nghĩa sau: Một là, hình phạt chung sau khi tổng hợp là sự đánh giá đầy đủ và toàn diện của nhà nước về các tội phạm mà một người đã thực hiện. Vì vậy, tổng hợp hình phạt đúng sẽ góp phần đạt được mục đích và nâng cao hiệu quả của hình phạt, nghĩa là mới có khả năng cải tạo, giáo dục người bị kết án trở thành người có ích cho xã hội đồng thời răn đe và phòng ngừa chung. Hai là, tổng hợp hình phạt đúng là góp phần củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa. Để tổng hợp hình phạt đúng,người áp dụng pháp luật (thẩm phán) phải nhận thức đúng và tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật.
9 z Mặt khác, hình phạt chung sau khi tổng hợp có tương xứng với các hành vi phạm tội thì mới có tính thuyết phục đối với người bị kết án. Ba là, việc tổng hợp hình phạt đúng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án thực thi nhiệm vụ, góp phần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Trong thực tế, việc tổng hợp hình phạt không chính xác sẽ dẫn đến các cơ quan thi hành án không thi hành được bản án có hiệu lực, từ đó làm mất đi tính uy nghiêm của bản án nhân danh nhà nước, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Và bốn là, tổng hợp hình phạt đúng sẽ bảo đảm tính công bằng của pháp luật và thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với những người thực hiện nhiều hành vi tội phạm.
Các quy định chung về tổng hợp hình phạt theo luật hình sự Việt Nam (Những trƣờng hợp không đặc biệt). Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. Phạm nhiều tội là trường hợp người phạm tội đã phạm những tội khác nhau được quy định trong luật hình sự mà những tội này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và cũng chưa bị đưa ra xét xử và kết án lần nào nay bị Tòa án đưa ra xét xử cùng một lúc. Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội chưa có khái niệm chính thức trong luật hình sự Việt Nam.
Theo quan điểm của tác giả trên cơ sở nghiên cứu quy định hiện hành về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, có thể đưa ra định nghĩa như sau: Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội là trường hợp Toà án xét xử cùng một lúc bị cáo phạm hai tội khác nhau trở lên được quy định trong luật hình sự mà những tội này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và cũng chưa bị đưa ra xét xử hoặc kết án lần nào, sau khi quyết định hình phạt đối với từng tội, Toà án quyết định hình phạt chung của các tội (bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung). 10 z Qua khái nhiệm trên, việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội chỉ được thực hiện khi có đầy đủ các điều kiện sau: Thứ nhất, bị cáo bị xét xử trong cùng một lần về hai tội phạm trở lên. Các tội này có thể được thực hiện cùng một lúc nhưng cũng có thể được thực hiện ở từng thời điểm khác nhau. Thứ hai, các tội phạm phải được quy định tại những điều luật khác nhau hoặc được quy định ở các khung khác nhau của cùng một điều luật của BLHS.
Thứ ba, trong số các tội phạm được đưa ra xét xử không có tội phạm nào đã được xét xử trước đó. Thứ tư, các tội phạm đang còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Về quy định và phương pháp tổng hợp cụ thể như sau: Đối với trường hợp một người phạm nhiều tội, khi xét xử trong cùng một lần đối với các tội đó, Toà án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây: 1) Đối với hình phạt chính: a. Nếu các hình phạt chính đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung, hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn.
Nếu các hình phạt chính đã tuyên là cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù có thời hạn theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung, hình phạt chung nếu là cải tạo không giam giữ cũng không được quá 03 năm và nếu là hình phạt tù cũng không được quá 30 năm. Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt chính đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung phải chấp hành là tù chung thân. Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt chính đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung phải chấp hành là tử hình. Hình phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác, các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung.
Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác. 2) Đối với hình phạt bổ sung: a. Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do BLHS quy định đối với loại hình phạt đó.Riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung. Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên.
Tuy nhiên, trong thực tế thường gặp những vụ án bị cáo phạm nhiều tội, nhưng tuỳ từng trường hợp, Toà án có thể xử người phạm tội về nhiều tội hoặc có thể chỉ xử về một tội chủ yếu và coi những hành vi phạm tội khác chỉ là những tình tiết tăng nặng, cụ thể là: “- Khi người phạm tội có nhiều hành vi, mỗi hành vi cấu thành một tội và nhằm mục đích khác nhau không có quan hệ hữu cơ với nhau, thì cần phải xử về nhiều tội, không kể hành vi đó xảy ra trong cùng thời gian hay trong những khoảng thời gian khác nhau và gây thiệt hại cho một người hay nhiều người. Ví dụ: bị cáo có hành vi hiếp dâm, sau đó giết và cướp tài sản của nạn nhân hay bị cáo phạm tội cướp tài sản của công dân, một thời gian sau lại cố ý gây thương tích nặng cho người khác. Trong những trường hợp trên, Toà án cần phải xử các bị cáo về nhiều tội.