Chương 1. MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TỪ NGUỒN VỐN NSNN TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. MỘT SỐ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TỪ NGUỒN VỐN NSNN TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. Một số khái quát về các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông từ nguồn vốn NSNN * Khái niệm dự án đầu tư xây dựng: Theo Luật Xây dựng năm 2014, khái niệm dự án đầu tư xây dựng: “Là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định.
Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng” Dự án đầu tư xây dựng có các đặc trưng cơ bản sau: - Dự án xây dựng có mục đích cuối cùng là sản phẩm công trình xây dựng hoàn thành đảm bảo các mục tiêu đã đặt ra về chất lượng, tiến độ, giá thành, an toàn, vệ sinh và bảo vệ môi trường… - Sản phẩm (công trình) của dự án xây dựng mang tính đơn chiếc, độc đáo và không phải là sản phẩm của một quá trình sản xuất liên tục, hàng loạt. - Dự án xây dựng có chu kỳ riêng (vòng đời) trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển, có thời gian tồn tại hữu hạn. - Dự án xây dựng có sự tham gia của nhiều chủ thể, đó là chủ đầu tư/chủ công trình, đơn vị thiết kế, đơn vị thi công, đơn vị giám sát, nhà cung ứng… Các chủ thể này lại có lợi ích khác nhau, quan hệ giữa họ thường mang tính đối tác. Luan van 12 - Môi trường làm việc của dự án xây dựng mang tính đa phương và dễ xảy ra xung đột quyền lợi giữa các chủ thể.
- Dự án xây dựng luôn bị hạn chế bởi các nguồn lực là tiền vốn, nhân lực, công nghệ, kỹ thuật, vật tư thiết bị… kể cả thời gian, ở góc độ là thời hạn cho phép dự án xây dựng thường yêu cầu một lượng chi phí đầu tư lớn, thời gian thực hiện dài và vì vậy có tính bất định và rủi ro cao. * Khái niệm công trình, công trình giao thông: Một dự án đầu tư xây dựng có thể gồm một công trình hoặc nhiều công trình với tính chất và quy mô khác nhau. Theo công năng sử dụng, phân loại công trình bao gồm: Công trình giao thông, công trình dân dụng, công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình công nghiệp và công trình quốc phòng, an ninh. Công trình giao thông là loại công trình chiếm tỷ trọng lớn trong đầu tư xây dựng cơ bản, nó bao gồm các công trình sau: Công trình đường bộ, công trình đường sắt, công trình cầu, công trình hầm, công trình đường thủy nội địa, công trình hàng hải, công trình hàng không.
Ở phạm vi cấp tỉnh, các công trình xây dựng giao thông phổ biến gồm: - Công trình đường bộ: Đường cao tốc, đường quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường phố (trong đô thị) và đường giao thông nông thôn. - Công trình cầu: Cầu vượt sông, cầu vượt đường bộ, cầu vượt đường sắt, cầu cho người đi bộ. - Công trình đường thủy nội địa: Bến thủy, cảng nội địa, bến khách. * Trình tự thực hiện dự án Theo quy định thì trình tự đầu tư xây dựng gồm 3 giai đoạn sau: “- Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư và thực hiện các công việc cần thiết liên quan đến chuẩn bị dự án; - Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát Luan van 13 xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sátthi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác; - Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trình xây dựng”.
Theo từng điều kiện cụ thể và yêu cầu kỹ thuật của từng dự án, người quyết định đầu tư quyết định thực hiện theo tuần tự hoặc kết hợp một số hạng mục công việc thuộc giai đoạn chuẩn bị dự án và giai đoạn thực hiện dự án. Quá trình thực hiện dự án đầu tư có thể mô tả bằng hình 1.1 dưới đây: CHUẨN BỊ ĐẦU TƯ THỰC HIỆN ĐẦU TƯ KẾT THÚC XÂY DỰNG CHUẨN BỊ ĐẦU TƯ THỰC HIỆN ĐẦU TƯ KẾT THÚC XÂY DỰNG Lập báo cáo đầu tư Khảo sát, thiết kế Nghiệm thu, bàn giao Lập dự án đầu tư Lựa chọn nhà thầu Kết thúc xây dựng Thẩm định dự án Bảo hành, vận Tổ chức thi công hành dự án Hình 1.1: Các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình (Nguồn: Nguyễn Xuân Thủy, 2010) 1. Bản chất quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông từ nguồn vốn NSNN Luan van 14 * Khái niệm về quản lý dự án đầu tư: “Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép” (theo Nghị định 59, 2015) Quản lý dự án gồm 3 nội dung chủ yếu là lập kế hoạch thực hiện, điều phối thực hiện theo kế hoạch (Quản lý tiến độ thời gian, chi phí thực hiện) và giám sát các công việc dự án nhằm đạt được các mục tiêu đã định. - Lập kế hoạch: Là quá trình tổ chức dự án theo một trình tự logic, là việc chi tiết hóa các mục tiêu của dự án thành những công việc cụ thể và hoạch định một chương trình thực hiện những công việc đó nhằm đảm bảo các lĩnh vực khác của dự án được kết hợp một cách chính xác và đầy đủ.
- Điều phối thực hiện dự án: Là quá trình phân phối các nguồn lực để thực hiện dự án theo kế hoạchbao gồm chi phí, nhân lực, vật tư, thiết bị. và đặc biệt là điều phối và quản lý tiến độ thời gian. Nội dung này chi tiết hoá thời hạn thực hiện cho từng công việc cho từng công việc và toàn bộ dự án. - Giám sát: là quá trình theo dõi, kiểm tra, đôn đốc tiến trình thực hiện dự án; phân tích, đánh giá khả năng hoàn thành, giải quyết những vấn đề liên quan và thực hiện báo cáo hiện trạng.
Các giai đoạn của quá trình quản lý dự án được trình bày ở hình sau: Lập kế hoạch Thiết lập mục tiêu Dự tính nguồn lực Xây dựng kế hoạch Giám sát Điều phối thực hiện Đo lường kết quả Bố trí tiến độ thời gian So sánh với mục tiêu Phân phối nguồn lực Báo cáo Phối hợp các hoạt động Giải quyết các vấn đề Khuyến khích động viên Luan van 15 Hình 1.2: Chu trình quản lý dự án (Nguồn: Từ Quang Phương, 2012) * Mục tiêu của quản lý dự án Mục tiêu cuối cùng của công tác quản lý dự án là điều phối hợp lý các nguồn lực để thực hiện dự án đảm bảo yêu cầu về chất lượng, chi phí được duyệt và đảm bảo hoàn thành theo kế hoạch tiến độ dự án cho phép. Các mục tiêu dự án có thể được xác định mức độ quan trọng và ưu tiên khác nhau giữa các dự án, giữa các thời kỳ thực hiện của dự án. Tùy trường hợp cụ thể để xác định mục tiêu quan trọng hơn và để thực hiện tốt đối với mục tiêu này thường phải “hy sinh” một hoặc hai mục tiêu kia. * Tác dụng của quản lý dự án - Liên kết tất cả các hoạt động, các công việc của dự án.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa nhóm quản lý dự án với khách hàng và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án. - Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ nhiệm vụ của các thành viên tham gia dự án. - Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn, vướng mắc nảy sinh và điều chỉnh kịp thời những thay đổi và điều kiện không dự đoán được. Tạo điều kiện cho việc đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan để giải quyết những bất đồng.
- Tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn * Các hình thức quản lý dự án - Hình thức Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án. Hình thức Chủ đầu tư trực tiếp QLDA được trình bày trong hình sau: Chủ đầu tư Tự thực hiện Ban quản lý dự án Tổ chức thực Tổ chức thực Tổ chức thực hiện dự án 1 hiện dự án 2 hiện dự án. Luan van 16 Hình 1.3: Hình thức Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án (Nguồn Nguyễn Bạch Nguyệt, 2013) Chủ đầu tư trực tiếp QLDA là hình thức tổ chức quản lý mà chủ đầu tư hoặc tự thực hiện dự án hoặc chủ đầu tư lập ra Ban QLDA để quản lý việc thực hiện các công việc dự án theo sự ủy quyền. Hình thức này có 2 mô hình: Mô hình 1: Được áp dụng chủ yếu tại UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
Theo đó, Chủ đầu tư lựa chọn, sử dụng tổ chức, cá nhân trong bộ máy hiện có của mình có đủ năng lực chuyên môn và kinh nghiệm để quản lý dự án. Mô hình này được áp dụng đối với dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản.