CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ TƯ VẤN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm năng lực của doanh nghiệp Theo từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (2003), NXB Đà Nẵng, năng lực được định nghĩa là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để có thể thực hiện một hoạt động nào đó”, hoặc năng lực là “phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Ở góc độ một tổ chức, năng lực được thể hiện ở mức độ sử dụng khả năng và nguồn lực sẵn có của tổ chức đó để thực thi các hoạt động chủ yếu.
Mỗi doanh nghiệp đều dựa trên những nguồn lực sẵn có của mình để khai thác tiềm năng của những nguồn lực đó và biến nó trở thành năng lực của doanh nghiệp, mỗi nhà quản trị khác nhau với những chiến lược sử dụng các khả năng tiềm tàng khác nhau sẽ tạo ra các năng lực khác nhau. Năng lực của DN thể hiện trình độ sử dụng và khai thác các nguồn lực vốn có của DN trong những điều kiện và môi trường KD nhất định. Năng lực của doanh nghiệp được tạo thành từ hai nguồn lực cơ bản là nguồn lực hữu hình, nguồn lực vô hình - Nguồn lực hữu hình là nguồn lực thể hiện dưới dạng vật chất hữu hình, có thể lượng hóa bằng các đơn vị đo lường cụ thể. Một số loại nguồn lực thể hiện ở dạng tài sản lưu động như hàng hóa vật tư, tiền vốn, các tài sản tài chính khác.
Một số loại khác tồn tại ở dạng tài sản như đất đai, hệ thống giao thông,… - Nguồn lực vô hình của doanh nghiệp đó là uy tín, danh tiếng của thương hiệu, ưu thế về công nghệ, sự tín nhiệm đối với thương mại quốc gia, vị trí địa lý, hệ thống giá trị và văn hóa, tinh thần doanh nhân, hệ thống thông tin thương mại, chất lượng nguồn nhân lực… Luan van 9 Trong nguồn lực vô hình của doanh nghiệp thì chất lượng nguồn nhân lực hàm ý nói đến nhân tố con người là một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với doanh nghiệp nói chung và đặc biệt quan trọng cấu thành năng lực cung ứng DV của DN dịch vụ nói riêng. Đây là một nguồn lực rất đặc biệt, vừa mang tính hữu hình lại vừa mang tính vô hình. Con người là nguồn lực có thể đo lường được (số lượng và trình độ lao động,…), tuy nhiên nó còn mang các yếu tố tiềm năng có thể khai thác và sử dụng ở các mức độ khác nhau. DN khai thác nguồn lực này không chỉ về lượng mà còn cả về chất.
Do vậy, tất cả các DN đều phải quan tâm đến phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên hai nhóm nguồn lực này chỉ có tính chất nền tảng. Để có được năng lực tốt cần phải biết phối hợp, khai thác và sử dụng các nguồn lực trên theo cách tốt nhất trong điều kiện môi trường nhất định. Với các DN, đây là yếu tố quản lý thể hiện qua phương pháp, cách thức và trình độ sử dụng các năng lực có sẵn vào quá trình SXKD của mình.
- Năng lực cung cấp dịch vụ: Năng lực cung cấp dịch vụ của tổ chức là khả năng sử dụng nguồn lực sẵn có của tổ chức để cung cấp những sản phẩm dịch vụ cần thiết để đáp ứng nhu cầu của KH. Nói cách khác năng lực cung cấp dịch vụ của một doanh nghiệp dịch vụ được hiểu là việc tích hợp khả năng và nguồn nội lực để cung cấp những sản phẩm dịch vụ cần thiết cho KH nhằm duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định. Năng lực cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp trong việc thỏa mãn nhu cầu của KH. Để tồn tại và phát triển bền vững DN phải có năng lực cung cấp, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, tạo lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh được thị phần.
Một thị trường được đánh giá là có sức cung tốt phải là một thị trường ở đó có nhiều các nhà cung cấp dịch vụ có năng lực. Năng lực cung cấp của DN được cấu thành bởi nhiều yếu tố trong đó có những yếu tố là bền vững, có những yếu tố đóng vai trò nguồn, có những yếu tố được hiển thị, có yếu tố khác mang tính vô hình và có yếu tố tạo nên năng lực cốt lõi cho DN trên thị trường. Khái niệm công ty chứng khoán Thị trường chứng khoán (TTCK) là thị trường hàng hóa bậc cao hình thành như một hệ quả tất yếu trong điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường. Đây là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn.
Việc mua bán này được tiến hành ở trị trường sơ cấp khi người mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Để hình thành và phát triển TTCK hiệu quả, một yếu tố không thể thiếu được là các chủ thể tham gia kinh doanh trên TTCK. Mục tiêu của việc hình thành TTCK là thu hút vốn đầu tư dài hạn cho việc phát triển kinh tế và tạo ra tính thanh khoản cho các loại chứng khoán. Do vậy, thúc đẩy TTCK hoạt động một cách có trật tự, công bằng và hiệu quả cần có sự ra đời của TTCK.
Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK trên thế giới cho thấy thời sơ khai của TTCK, các nhà môi giới hoạt động cá nhân độc lập với nhau. Sau này, cùng với sự phát triển cuả TTCK, chức năng và quy mô hoạt động giao dịch của các nhà môi giới tăng lên đòi hỏi sự ra đời của các công ty chứng khoán(CTCK) là tập hợp có tổ chức của các nhà môi giới riêng lẻ. Theo luật chứng khoán Việt Nam 2006 quy định thì CTCK là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động như môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán. Khái niệm dịch vụ, dịch vụ tư vấn chứng khoán Dịch vụ là một lĩnh vực rất phong phú, đa dạng và luôn có sự phát triển không ngừng cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Nó luôn được coi là ngành góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế của quốc gia, là một yếu tố không thể tách rời khỏi quá trình SX HH, làm tăng giá trị và khả năng cạnh tranh của HH, DV. Kinh tế càng phát triển thì DV cũng ngày càng trở nên phát triển. Theo quan điểm của Philip Kotler, “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở Luan van 11 hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất” Khái niệm dịch vụ tư vấn chứng khoán: Theo Luật chứng khoán 2006 định nghĩa: “Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán”.
Hoạt động tư vấn đầu tư trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK cũng phải dựa vào cơ sở dữ liệu thu thập được, bộ phận tư vấn đầu tư của các công ty chứng khoán xử lý thông tin, phân tích các tình huống hay thực hiện. Dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lời khuyên, phân tích các tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng. Hoạt động tư vấn là việc nhân viên tư vấn của công ty chứng khoán sử dụng vốn kiến thức của mình để thực hiện tư vấn cho các khách hàng nhằm đem lại lợi nhuận cho khách hàng đó. Dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán được phân loại theo ba tiêu thức sau: - Hình thức hoạt động tư vấn: gồm có tư vấn trực tiếp và tư vấn gián tiếp.
- Theo mức độ ủy quyền của tư vấn: gồm có tư vấn gợi ý và tư vấn ủy quyền. - Theo đối tượng của tư vấn: gồm có tư vấn cho người phát hành và tư vấn đầu tư. + Nguyên tắc cơ bản của dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán: Hoạt động tư vấn là việc người tư vấn sử dụng kiến thức của mình để kinh doanh để đem lại hiệu quả cho khách hàng thông qua việc đưa ra các lời khuyên. Do đó, việc đưa ra các lời khuyên phải hết sức thận trọng bởi có thể khiến khách hàng thu về lợi nhuận lớn nhưng cũng có thể thua lỗ, thậm chí phá sản.
Chính vì vậy, hoạt động tư vấn đòi hỏi phải tuân thủ một số nguyên tắc sau: - Không đảm bảo chắc chắn về giá trị chứng khoán: giá trị chứng khoán không phải là cố định, nó luôn thay đổi theo các yếu tố kinh tế, tâm lý và diễn biến thực tiễn của thị trường. Luan van 12 - Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn của mình dựa trên cơ sở phân tích các yếu tố lý thuyết và những diễn biến trong quá khứ, có thể là khồng hoàn toàn chính xác và khách hàng là người quyết định cuối cùng trong việc sử dụng các thông tin từ nhà tư vấn đầu tư, nhà tư vấn sẽ không chịu trách nhiệm về những thiệt hại kinh tế do lời khuyên đưa ra. - Không được dụ dỗ, mời chào khách hàng mua hay bán một loại chứng khoán nào đó, những lời tư vấn phải được xuất phát từ những cơ sở khách quan là quá trình phân tích, tổng hợp một cách khoa học, logic các vấn đề nghiên cứu. Khái niệm năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn của công ty chứng khoán Từ những khái niệm trên tác giả đưa ra khái niệm về năng lực cung ứng dịch vụ tư vấn của công ty chứng khoán là năng lực kết hợp các nguồn lực hiện có của công ty chứng khoán để cung cấp cho khách hàng sản phẩm dịch vụ tư vấn chứng khoán.