Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA CỦA THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm chung về thi hành án Hoạt động thi hành án có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn trật tự, kỷ cương pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhất là trong điều kiện hiện nay khi Đảng và Nhà nước ta đang chú trọng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Việc đạt được công lý, công bằng qua hoạt động xết xử sẽ phát huy vai trò của Tòa án khi những bản án, quyết định được tổ chức thi hành.
Bản án, quyết định - kết quả giải quyết của Tòa án nhân danh Nhà nước - là sự xác nhận quyền và nghĩa vụ của các đương sự có liên quan. Vì vậy, theo quy định của Điều 136 Hiến pháp năm 1992 thì "Các bản án và quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành". Chính vì vậy, khi bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án muốn giải quyết được các tranh chấp, muốn những phán quyết của Tòa án được thực thi trên thực tế thì phải có thi hành án. Theo nguyên tắc hiến định nêu trên và yêu cầu khách quan trong hoạt động của nhà nước, có thể thấy thi hành án là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động của nhà nước, vừa có những đặc tính phổ biến của một dạng hoạt động nhà nước, vừa có những đặc trưng riêng: Thứ nhất, thi hành án là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử của tòa án.
Các bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án. Tuy nhiên, thi hành án là một dạng hoạt động 8 hành chính nhà nước, chứ không phải là hoạt động tố tụng bởi xét về bản chất thì hoạt động tố tụng phải tuân theo một trình tự, thủ tục tố tụng hết sức chặt chẽ với mục đích tìm ra sự thật của vụ án, còn thi hành án chỉ là sự thực thi kết quả của quá trình tố tụng trước đó trên thực tế, tức là không phải đi tìm sự thật của vụ án nữa mà là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Thứ hai, thi hành án là hoạt động có tính chấp hành nhưng là chấp hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của toà phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình. Mục đích cuối cùng của thi hành án là bảo đảm cho các quyết định của tòa án được ghi trong bản án, quyết định được thực thi trên thực tế chứ không phải ban hành văn bản áp dụng pháp luật hoặc quyết định có tính chất điều hành như trong hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính.
Mặt khác, tính chất chấp hành không chỉ là yêu cầu trong hoạt động thi hành án mà còn là yêu cầu bắt buộc trong các giai đoạn tố tụng trước đó với ý nghĩa cao nhất là chấp hành các quy định của pháp luật, bởi bản thân pháp luật được nhà nước ban hành có tính bắt buộc chung mà mọi người phải tôn trọng thực hiện. Thứ ba, hoạt động thi hành án bên cạnh việc sử dụng phương pháp giáo dục, thuyết phục còn sử dụng các phương pháp điều chỉnh của hoạt động hành chính như phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc thi hành đặc biệt là trong thi hành án hình sự. Trong thi hành án dân sự phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc thể hiện rõ nhất trong các biện pháp cưỡng chế thi hành án. Từ những phân tích trên có thể hiểu thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp mang tính quyền lực nhà nước, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm thực hiện trên thực tế các phán quyết của Tòa án theo bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khái niệm, đặc điểm của thi hành án dân sự Xuất phát từ bản chất của các quan hệ dân sự trong đời sống xã hội và quá trình tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự phát sinh thì bản án, quyết định dân sự - kết quả giải quyết của tòa án nhân danh nhà nước là sự xác nhận quyền và nghĩa vụ dân sự của các đương sự có liên quan. Hoạt động thi hành án dân sự nhằm đảm bảo thực thi nghiêm chỉnh các bản án, quyết định dân sự. Căn cứ theo Luật thi hành án dân sự hiện nay thì việc thi hành án dân sự bao gồm bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại (gọi chung là bản án, quyết định). Tuy nhiên, nhiều vụ việc có tính chất khác nhau, được giải quyết theo trình tự tố tụng khác nhau (như những vụ việc về hành chính, về lao động, về kinh tế…) nhưng đến giai đoạn thi hành đều được áp dụng theo trình tự, thủ tục thi hành án dân sự.
Như vậy, có thể nói phạm vi của thi hành án dân sự hiện nay là rất rộng. Việc ban hành Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã tạo bước ngoặt mới trong sự phát triển của pháp luật về thi hành án dân sự, là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc hoàn thiện tổ chức bộ máy và hoạt động thi hành án theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, bước đầu đã mang lại những kết quả khả quan cho công tác thi hành án dân sự. Tuy nhiên, từ các văn bản pháp lý trước đó về thi hành án dân sự như Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đến năm 2008 là Luật thi hành án dân sự vẫn chưa có điều luật nào khái niệm cụ thể về thi hành án dân sự. Chính vì vậy cũng phát sinh những ý kiến khác nhau về tính chất đặc trưng của thi hành án dân sự: 10 Có ý kiến cho rằng "thi hành án dân sự là tổng hợp các hành vi tố tụng thực hiện bản án, quyết định dân sự của Tòa án theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định" [28].
Theo ý kiến này, xét về những đặc điểm cơ bản của hoạt động thi hành án, thì có thể coi đây là một giai đoạn kết thúc quá trình tố tụng dân sự. Ngay trong hệ thống pháp luật hiện hành, hoạt động thi hành án dân sự cũng đã được xác định thuộc phạm vi điều chỉnh trong các văn bản pháp luật về tố tụng như: Theo quy định tại Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 thì Bộ luật Tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động…và về thi hành án dân sự. Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành cũng có một phần riêng (phần thứ bảy) quy định về thi hành án bản án, quyết định dân sự của Tòa án… Có ý kiến lại cho rằng: Thi hành án là tố tụng hành chính vì các cơ quan thực hiện việc thi hành án thuộc Chính phủ không phải thuộc tòa án, việc giải quyết khiếu nại, kháng nghị trong thi hành án đã khác hẳn về hình thức, thủ tục so với việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trong tố tụng dân sự [36]. Nhưng trên cơ sở bản chất của hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động mang tính chất tư pháp đặt dưới sự chỉ đạo, tổ chức và quản lý của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước cho thấy: Thứ nhất cơ sở của hoạt động thi hành án là các bản án, quyết định dân sự của Tòa án; các cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án chủ yếu là cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng).
Thứ hai thi hành án và giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ với nhau. Nếu một bản án, quyết định được Tòa án tuyên một cách công bằng, thấu tình, đạt lý, rõ ràng, cụ thể, được dư luận ủng hộ, đồng tình thì việc thi hành án sẽ dễ dàng, nhanh chóng hơn. Ngược lại, nếu bản án, quyết định của Tòa án được tuyên không khách quan, toàn diện và công bằng, thiếu tính khả 11 thi sẽ gây cản trở cho việc thi hành án, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước. Đồng thời, việc thi hành án nhanh chóng, kịp thời sẽ có tác động tích cực trở lại đối với hoạt động xét xử, củng cố, tăng cường uy tín của cơ quan xét xử.
Xuất phát từ sự phân tích trên, trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác thi hành án dân sự có thể khái niệm mang tính bao quát: thi hành án dân sự là hoạt động hành chính - tư pháp, là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng do các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp quản lý và thực hiện nhằm thi hành trên thực tế các bản án, quyết định về dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Từ khái niệm trên, có thế thấy thi hành án dân sự có những đặc điểm sau: - Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính tài sản. Xuất phát từ bản chất của các quan hệ dân sự là quan hệ mang tính tài sản chính vì thế mà quá trình thi hành án dân sự cũng mang tính tài sản, nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, tức là khôi phục lại những lợi ích vật chất trước đó của người được thi thi hành án. Do đó, các trình tự, thủ tục thi hành án cũng được quy định chặt chẽ bởi pháp luật giống như những thủ tục tố tụng trước đó vì đều liên quan đến các quyền công dân.