phần mở đầu của nhiều Hợp đồng quốc tế dưới tên gọi “Điều khoản Hardship”. Sự ra đời của hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Công ước CISG Công ước Viên của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (viết tắt theo tiếng Anh là CISG - Convention on Contracts for the International Sale of Goods), (sau đây gọi là Công ước CISG), được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.22 CISG có hiệu lực từ ngày 01/01/1988.23 Công ước Viên 1980 đã thống nhất hóa và khắc phục được nhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển.24 Tại Việt Nam, hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta diễn ra khá nhộn nhịp, trong đó, các hợp đồng về mua bán hàng hóa quốc tế chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số hợp đồng nói chung.25 Tính đến hết năm 2015, các thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam hầu hết đều là thành viên của Công ước CISG.26 Bên cạnh đó, lợi ích điển hình đối với doanh nghiệp Việt Nam là sẽ tiết kiệm được các chi phí trong đàm 21 Bộ nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế, (2014), tlđd. Nguyễn Minh Hằng; TS. Đinh Thị Mỹ Loan, (2013), Đề xuất Việt Nam gia nhập Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, http://www.vn/chuyen-de/912-de-xuat-viet-nam-gia-nhap-cong- uoc-vien-ve-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te, (truy cập ngày 09/10/2019).
23 khi có 10 quốc gia phê chuẩn, theo Công ước CISG, Điều 99.vn/chuyen-de/1214-thuan-loi-hon-trong-mua-ban-quoc-te-viet-nam-huong-den- gia-nhap-cisg, (truy cập ngày 09/10/2019).vn/chuyen-de/9291-viet-nam-ap-dung-cong-uoc-vien-ve-hop-dong-mua-ban- hang-hoa-quoc-te-tu-nam-2017, (truy cập ngày 09/10/2019). 15 phán hợp đồng (trước đó, quá trình đàm phán để lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng đã mất khoảng 2 tiếng, chi tiết về thực hiện hợp đồng cũng như từng điều khoản trong hợp đồng cũng khiến Doanh nghiệp mất nhiều thời gian do chưa có điều khoản thống nhất để tham khảo,…).27 Khi Việt Nam trở thành thành viên của Công ước CISG thì Công ước này sẽ được áp dụng tự động trong trường hợp hai bên doanh nghiệp đối tác đến từ các nước thành viên của Công ước CISG. 28 Do vậy, việc Công ước CISG có hiệu lực được đánh giá là đem đến nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp Việt Nam, giúp các doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc kinh doanh với bạn hàng quốc tế.29 Việt Nam đã gia nhập CISG vào cuối tháng 12/2015 và Công ước CISG chính thức có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 01/01/2017. Việc gia nhập Công ước CISG đã đánh dấu một mốc mới trong quá trình tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương về thương mại, tăng cường mức độ hội nhập của Việt Nam, đồng thời, cũng góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế và tạo cho các doanh nghiệp việt nam một khung pháp lý hiện đại, công bằng và an toàn để thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.30 Có rất nhiều học giả cho rằng Công ước Quốc tế CISG có đề cập tới Hoàn cảnh thay đổi cơ bản, cụ thể tại Điều 79 của Công ước Quốc tế CISG;31 một số khác lại 27 http://www.vn/chuyen-de/9291-viet-nam-ap-dung-cong-uoc-vien-ve-hop-dong-mua-ban- hang-hoa-quoc-te-tu-nam-2017, (truy cập ngày 09/10/2019).vn/chuyen-de/8401-viet-nam-chinh-thuc-tro-thanh-thanh-vien-thu-84-cua-cisg, (truy cập ngày 09/10/2019).
31 Rolf Kofod, (2011), “Hardship in International Sales CISG and the UNIDROIT Principles 3. Đại học Copenhagen, Copenhagen, https://www.edu/cisg/biblio/kofod.html, (truy cập ngày 08/09/2019), “Bằng cách tránh tham chiếu đến điều khoản Hoàn cảnh thay đổi (Hardship), hay bất kỳ khái niệm tương tự nào khác như Bất khả kháng, không thể thực hiện được, hay wegfall der Geschäftsgrundlage, thuật ngữ “trở ngại” (impediment) được sử dụng để tóm gọn những nguyên tắc trên đây vào một điều khoản bằng một từ ngữ khá linh hoạt. 16 phủ nhận điều này.32 Sở dĩ có những ý kiến trái chiều như vậy là bởi Điều 79 được xem rất “mơ hồ”, “thiếu chính xác” và “chứa đựng những từ ngữ lỏng lẻo”.33 Không tập trung đưa ra kết luận rằng liệu Điều 79 Công ước CISG có “bao hàm” (covers) điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay không, trong Luận văn này, người viết muốn tiếp cận điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản được diễn giải và áp dụng thế nào theo Điều 79. Giả thuyết rằng, Điều 79 Công ước CISG có bao hàm cả điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Khoản 1, Điều 79 của Công ước CISG có quy định như sau: “1. Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở ngại (an impediment) nằm ngoài sự kiểm soát của bên đó và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng hoặc là tránh được hay khắc phục các hậu quả của nó. Khái niệm Hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo CISG, PICC và Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 1. Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo CISG Thuật ngữ “trở ngại” trong Điều 79 được nhiều học giả đánh giá rằng mơ hồ và thiếu chính xác,35 số khác lại chỉ ra một số "mâu thuẫn và mơ hồ" trong việc sử dụng 32 Markus Petsche, (2005), “Hardship under the UN Convention on the International Sale of Goods (CISG)”, Vindobona Law Journal, Số 19, tr.
147, 148; John Honnold (1989), Documentary History of the Uniform Law for International Sales, NXB. Kluwer Law and Taxation Publishers, Deventer, tr. 252, “Theo một số nhà bình luận pháp lý, việc loại trừ (rectius: loại bỏ) Hoàn cảnh thay đổi (Hardship) trong phạm vi Điều 79 đã xuất hiện từ lịch sử soạn thảo điều khoản này.” Lovro Klepac, (2017), Luận văn thạc sỹ, “The availability of a Hardship Defense under the UN Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG)”, Trường Đại học Centeral European University, tr., “Một lý do nữa để kết luận rằng điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản (Hardship) bị loại trừ khỏi Công ước CISG, đó là ngay trong từ ngữ của Điều 79 Công ước CISG quy định rằng, "bên bị bất lợi không mong đợi một cách hợp lý để tránh hoặc khắc phục hậu quả của sự kiện đó". Điều này là phù hợp với những tình huống Hoàn cảnh thay đổi cơ bản”; 33 Albert H.
Kritzer (1994), “International Contract Manual - Guide to Practical Applications of the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods”, Detailed Analysis 623, tr. 34 Bản dịch của VIAC, http://www.vn/upload/files/chu_de_khac/303-cong-uoc-vien/307-van- kien/Cong%20uoc%20vien%201980%20-%20TV. Nicholas (1984), “Impracticability and Impossibility in the U. Convention on Contracts for the International Sale of Goods”, International Sales: The United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, Số 5(02), tr.
5-4 (Có thể tìm đọc tại Nina M. Galston & Hans Smit, (ed), NXB. 17 thuật ngữ này.36 Bởi vậy các học giả trên thế giới rất cố gắng để định nghĩa thuật ngữ này và những định nghĩa này cũng rất đa dạng. Vậy điều gì cấu thành nên “trở ngại”? Bất kì việc gì khiến việc thực hiện nghĩa vụ không thể thực hiện một cách khách quan sẽ được coi là “trở ngại”.37 “Trở ngại” theo Điều 79 có thể được hiểu là trở ngại vật lý, chẳng hạn như sự kiện chiến tranh, nội chiến, các hành động khủng bố, hoặc cấm vận thương mại, kinh tế, hay các thảm hoạ tự nhiên, khó khăn gây ra bởi sự gia tăng chi phí để thực hiện hợp đồng.38 Rất khó để có thể đưa ra một danh sách đầy đủ các sự kiện được coi là “trở ngại”,39 do đó, việc đánh giá này phải được xem xét theo từng trường hợp cụ thể.
Ví dụ, tình trạng chiến tranh không thể được coi là “trở ngại” nếu các bên đều thoả thuận rằng việc thực hiện nghĩa vụ ngay cả trong chiến tranh là hoàn toàn có thể. Từ những phân tích ở trên về định nghĩa thuật ngữ “trở ngại”, có thể coi định nghĩa Hoàn cảnh thay đổi cơ bản tương tự như “trở ngại” trong Công ước CISG. Hoàn cảnh thay đổi cơ bản có những đặc điểm như: là trở ngại không thể thấy trước được cũng như nằm ngoài tầm kiểm soát của bên vi phạm, xảy ra sau khi ký kết hợp đồng và hậu quả rất nặng nề. Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo PICC Theo PICC, “hardship” được xác lập khi có “Các sự kiện khách quan xảy ra làm thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa các nghĩa vụ hợp đồng, hoặc chi phí thực hiện nghĩa vụ tăng lên, hoặc do giá trị của nghĩa vụ đối trừ giảm xuống…” và thỏa mãn các điều kiện như (1) Các sự kiện này xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao kết hợp đồng; (2) Bên bị bất lợi đã không tính đến một cách hợp lý các sự kiện đó khi Parker School of Foreign and Comparative Law, Đại học Columbia, Columbia, http://cisgw3.edu/cisg/biblio/nicholas1.
Tallon (1987), “Commentary to Article 79”, Commentary on the International Sales Law. The 1980 Vienna Sales Convention, http://cisgw3.edu/cisg/biblio/tallon-bb79. 37 Gomard & Rechnagel (1990), International Kjabelov, tr. 38 Jenni Miettinen (2015), Luận văn Thạc sỹ, “Interpreting CISG Article 79 (1): Economic impediment and the reasonability requirement” - Đại học University of Lapland, tr.
39 Niklas Lindström (2006), “Changed Circumstances and Hardship in the International Sale of Goods”, Nordic Journal of Commercial Law, Số 2006(1), https://cisgw3.edu/cisg/biblio/lindstrom. 40 Lukas Rusch (2019), “Force Majure and Hardship under the CISG”, Hội thảo 13th Annual Generations in Arbitration Conference, ngày 31 Tháng Ba năm 2019, Hồng Kông, tr. 14 18 giao kết hợp đồng; (3) Các sự kiện đó nằm ngoài sự kiểm soát của bên bị bất lợi; và (4) Rủi ro về các sự kiện này không được bên bị bất lợi gánh chịu”.41 Việc xác định chính xác "thay đổi cơ bản sự cân bằng các nghĩa vụ hợp đồng" (được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm hoặc thuật ngữ số khác) dường như là một công việc hết sức khó khăn trong các văn bản pháp lý. Từ “thay đổi cơ bản” sẽ được xem xét tùy trường hợp cụ thể.43 Trong vụ tranh chấp Spanish advertising agency,44 giữa công ty quảng cáo của Tây Ban Nha (Nguyên đơn) với Công ty vận tải thành phố Valencia (Bị đơn): Nguyên đơn và Bị đơn ký kết một hợp đồng thỏa thuận về việc khai thác quảng cáo trên xe bus (xe bus thuộc sở hữu của Bị đơn), tuy nhiên do khủng hoảng kinh tế dẫn đến nguồn đầu tư cho lĩnh vực marketing trên các phương tiện vận tải sụt giảm, Nguyên đơn đã yêu cầu Bị đơn giảm 70% giá thuê hàng tháng do sự giảm sút không lường trước được trong đầu tư tiếp thị trong lĩnh vực vận tải.
Tòa án cấp sơ thẩm đã điều chỉnh tiền thuê ở mức 80% doanh thu thuần hàng tháng của Nguyên đơn. Các bên kháng cáo.