Tổng quan nghiên cứu

Năm 2011, tổng công suất lắp đặt nguồn điện của Việt Nam đạt khoảng 22.000 MW, trong đó thủy điện chiếm tỷ trọng vượt trội 45,5%. Sự phụ thuộc lớn vào thủy điện dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn cung nghiêm trọng trong mùa khô, buộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) phải đối mặt với áp lực thiếu hụt 216.000 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển nguồn điện giai đoạn 2011 - 2015. Theo Quyết định số 1208/QĐ-TTg về Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030 (Quy hoạch điện VII), tỷ trọng nhiệt điện than được định hướng tăng mạnh lên 51,6% vào năm 2030. Trong bối cảnh đó, Dự án Nhà máy Nhiệt điện than Vân Phong 1 với quy mô công suất 1.320 MW (tương đương 6% tổng công suất toàn quốc năm 2011) và tổng mức đầu tư 2,126 tỷ USD được đề xuất xây dựng tại Khu kinh tế Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa theo hình thức Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao (BOT).

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề đánh đổi giữa an ninh năng lượng và chi phí kinh tế - xã hội - môi trường. Mục tiêu cốt lõi của luận văn là thẩm định tính khả thi tài chính và kinh tế của dự án, đồng thời tiên phong lượng hóa bằng tiền các ngoại tác tiêu cực tác động đến sức khỏe cộng đồng và ngành du lịch địa phương. Phạm vi phân tích bao quát vòng đời dự án 25 năm hoạt động (dự kiến vận hành thương mại từ năm 2017) trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa và phạm vi phát tán khí thải toàn quốc. Kết quả định lượng cho thấy dự án không khả thi về mặt kinh tế với Giá trị hiện tại thuần kinh tế (ENPV) đạt -560,97 triệu USD, Suất sinh lời nội tại kinh tế (EIRR) chỉ đạt 6,24% (thấp hơn chi phí cơ hội vốn kinh tế 10%), cùng gánh nặng chi phí ngoại tác môi trường lên tới 90,51 triệu USD.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng Lý thuyết Phân tích Chi phí - Lợi ích (CBA) mở rộng và Lý thuyết Kinh tế Môi trường. Để nhận diện dòng giá trị thực, phương pháp phân tích "Có hoặc Không có dự án" (With/Without project) được vận dụng nhằm tách biệt sản lượng điện phục vụ nhu cầu phụ tải tăng thêm của nền kinh tế. Trong phân tích tài chính, các khái niệm căn bản như Giá trị hiện tại thuần tài chính (FNPV), Suất sinh lời nội tại tài chính (FIRR), Chi phí vốn bình quân trọng số (WACC) và Hệ số khả năng trả nợ (DSCR) được áp dụng trên cả hai góc độ: Tổng mức đầu tư và Vốn chủ sở hữu.

Nhằm lượng hóa ngoại tác môi trường, nghiên cứu tích hợp Mô hình khuyếch tán khí thải Gaussian Plume chia vùng tác động thành Vùng địa phương (bán kính 56 km tại Khánh Hòa) và Vùng khu vực (bán kính 1.000 km trên toàn quốc). Thiệt hại sức khỏe được mô hình hóa qua Mô hình Tác động Đồng nhất Đơn giản (SUWM) kết hợp Hàm phản ứng phơi nhiễm (ERF) đo lường ba nhóm bệnh lý: Tỷ lệ tử vong mãn tính (CM), Viêm phế quản mãn tính (CB) và Số ngày hoạt động bị hạn chế (RAD). Chi phí điều trị đơn vị (MUV) được quy đổi từ tiêu chuẩn Châu Âu về Việt Nam theo phương pháp Ngang giá sức mua (PPP) thu nhập bình quân đầu người. Tổn thất du lịch được ước tính qua Mô hình Chi phí Du hành theo vùng (ZTCM) dựa trên lý thuyết đường cầu giải trí của Ian Bateman.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp của luận văn được thu thập từ Báo cáo đầu tư của Viện Năng lượng (2009), Báo cáo thường niên của EVN giai đoạn 2010 - 2012, số liệu dịch tễ học của Bộ Y tế (2010), dự báo giá than toàn cầu của Ngân hàng Thế giới và niên giám thống kê du lịch tỉnh Khánh Hòa năm 2012. Mẫu nghiên cứu tham chiếu dịch tễ bao gồm 10.111 thành viên hộ gia đình tại Việt Nam và 9.561 đối tượng theo dõi bệnh hô hấp quốc tế; mẫu khảo sát đường cầu du lịch được phân bổ trên 5 vùng địa lý có bán kính từ 110 km đến trên 750 km.

Phương pháp phân tích dòng tiền chiết khấu (DCF) kết hợp xác định hệ số chuyển đổi (CF) từ giá tài chính sang giá kinh tế (dao động từ 0,92 đối với chi phí đền bù đất đến 0,96 đối với chi phí tư vấn; phí thưởng ngoại hối 4,6%). Lý do lựa chọn hệ số chuyển đổi nhằm loại bỏ các khoản chuyển giao nội bộ (thuế VAT 10%, trợ cấp) và phản ánh đúng chi phí cơ hội của lao động và ngoại tệ. Nhằm kiểm soát các biến số rủi ro vĩ mô trong suốt timeline 25 năm, nghiên cứu sử dụng phần mềm RiskPoll phiên bản 1.052 để mô phỏng phát thải và chạy phần mềm Crystal Ball để phân tích mô phỏng ngẫu nhiên Monte Carlo với 10.000 vòng lặp cho các biến giá điện, giá than và tổng vốn đầu tư.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, dự án hoàn toàn không khả thi về mặt kinh tế. Ngân lưu kinh tế ròng quy về hiện tại ghi nhận ENPV âm 560,97 triệu USD và EIRR đạt 6,24%, thấp hơn 3,76% so với chi phí cơ hội kinh tế của vốn (EOCK = 10%). Tổng giá trị hiện tại của chi phí kinh tế lên tới 4.117,44 triệu USD, vượt xa mức lợi ích kinh tế mang lại là 3.556,48 triệu USD.

Thứ hai, dự án không đạt hiệu quả tài chính ở cả hai giác độ đánh giá. Theo quan điểm tổng đầu tư, FNPV thực âm 742,00 triệu USD với FIRR thực đạt 3,0% (thấp hơn WACC thực 7,21%). Theo quan điểm chủ sở hữu (vốn góp 637,8 triệu USD), FNPV đạt -649,71 triệu USD và FIRR đạt 1,35% (thấp hơn nhiều so với suất sinh lời kỳ vọng 10,55%). Hệ số an toàn trả nợ DSCR liên tục duy trì dưới ngưỡng 1,1 trong suốt giai đoạn trả nợ từ năm 2017 đến năm 2028, đặt dự án vào nguy cơ vỡ nợ tài chính.

Thứ ba, gánh nặng ngoại tác môi trường và sức khỏe là rất lớn. Tổng chi phí ngoại tác xã hội quy về hiện tại là 90,51 triệu USD, trong đó thiệt hại sức khỏe chiếm 90,14 triệu USD (tương đương 12,8 triệu USD/năm hay 0,1492 cent/kWh phát điện). Căn bệnh tử vong mãn tính (CM) chiếm tới 85% tổng tổn thất sức khỏe. Thiệt hại du lịch tại tỉnh Khánh Hòa làm suy giảm 50.825 USD thặng dư du khách do chi phí sức khỏe tăng thêm 133 VNĐ/khách lưu trú.

Thứ tư, độ nhạy tài chính và kinh tế cực kỳ mong manh trước biến động thị trường. Kiểm định Monte Carlo 10.000 lần thử cho thấy xác suất để dự án đạt ENPV dương chỉ vỏn vẹn 28,05%. Để dự án đạt điểm hòa vốn kinh tế, mức giá điện kinh tế phải đạt giá trị hoán chuyển 8,31 cent/kWh (so với mức cơ sở 7,17 cent/kWh). Về mặt tài chính, giá bán điện phải tăng lên mức 7,25 cent/kWh (tăng 17,9% so với giá cơ sở 6,15 cent/kWh) hoặc giá than nhập khẩu 113,87 USD/tấn phải giảm sâu hơn 27% thì FNPV mới không bị âm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại về mặt kinh tế và tài chính bắt nguồn từ cấu trúc chi phí nhiên liệu than nhập khẩu quá lớn (chiếm 2.858,94 triệu USD trong ngân lưu tài chính ra) cùng mức vốn đầu tư ban đầu cao (2,126 tỷ USD), trong khi giá bán điện theo thỏa thuận ban đầu không đủ bù đắp chi phí vốn. So sánh với nghiên cứu Nhiệt điện Phú Mỹ 2.2 của Ngân hàng Thế giới (2002) với giá điện kinh tế 7,5 cent/kWh, dự án Vân Phong 1 đòi hỏi mức giá sẵn lòng chi trả (WTP) cao hơn đáng kể mới có thể bù đắp chi phí truyền tải 1,47 cent/kWh và tổn thất lưới điện 9,5%.

Kết quả phân phối phúc lợi chỉ ra sự bất bình đẳng sâu sắc: nhóm hưởng lợi gồm người tiêu dùng điện, lao động vận hành và ngân sách nhà nước thông qua thuế; trong khi nhóm chịu thiệt hại nặng nề là chủ đầu tư BOT, ngành du lịch biển Nha Trang - Vân Phong và sức khỏe của hơn 1,2 triệu người dân địa phương. Mô hình dữ liệu phân tích độ nhạy được hệ thống hóa qua bảng ma trận biến số và biểu đồ phân phối xác suất Monte Carlo, minh họa rõ nét mức độ rủi ro tập trung khi giá than thế giới biến động ngược chiều và đường cầu du lịch ZTCM co cụm do ô nhiễm bụi PM10, SO2 và NOx.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích định lượng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược dành cho các cơ quan quản lý và chủ đầu tư:

Thứ nhất, Bộ Công Thương và Chính phủ cần tạm dừng phê duyệt hoặc từ chối ký kết hợp đồng BOT dự án Nhiệt điện than Vân Phong 1 theo cấu trúc hiện tại. Trong trường hợp vẫn xem xét triển khai để giải quyết bài toán phụ tải, cơ quan quản lý cần yêu cầu chủ đầu tư tái đàm phán hợp đồng mua bán điện (PPA) với mức giá bán điện tối thiểu đạt 7,25 cent/kWh hoặc cắt giảm tối thiểu 42,1% tổng mức vốn đầu tư xây dựng trước mốc khởi công năm 2015.

Thứ hai, Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên & Môi trường cần thiết lập cơ chế thu phí ngoại tác môi trường bắt buộc, áp dụng mức phí sàn 0,1492 cent/kWh phát thải đối với các nhà máy nhiệt điện than trong giai đoạn 2014 - 2016. Biện pháp này nhằm nội hóa khoản tổn thất 90,51 triệu USD vào chi phí sản xuất, tạo nguồn tài chính hỗ trợ hệ thống y tế công cộng và bảo tồn cảnh quan sinh thái.

Thứ ba, EVN cần đẩy mạnh chương trình hiện đại hóa lưới điện nhằm giảm tỷ lệ tổn thất truyền tải từ mức 9,5% (năm 2011) xuống mức mục tiêu 6,0% trong giai đoạn 2013 - 2023. Việc giảm 3,5% tổn thất tương đương với việc bổ sung hàng tỷ kWh điện thương phẩm vào hệ thống mà không cần đầu tư thêm các dự án nhiệt điện than gây ô nhiễm.

Thứ tư, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa cần định vị lại chiến lược phát triển kinh tế vịnh Vân Phong giai đoạn 2015 - 2020, ưu tiên chuyển dịch cơ cấu sang năng lượng tái tạo (điện mặt trời, điện gió ngoài khơi) và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG). Giải pháp này giúp bảo vệ không gian du lịch biển đảo, duy trì tốc độ tăng trưởng thu hút hơn 1 triệu lượt du khách hàng năm và bảo toàn giá trị thặng dư giải trí của địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và mô hình thẩm định của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách năng lượng (Bộ Công Thương, Cục Điều tiết Điện lực, Ban Quản lý Khu kinh tế Vân Phong). Tài liệu cung cấp phương pháp luận chuẩn xác để đánh giá tác động phân phối phúc lợi xã hội và kiểm định hiệu quả kinh tế trước khi cấp phép các dự án hạ tầng nguồn điện quy mô lớn.

Thứ hai, các nhà đầu tư phát triển dự án nguồn điện độc lập (IPP, nhà đầu tư BOT như Sumitomo, Hanoinco) và các tổ chức tín dụng quốc tế (JBIC, SMBC). Luận văn hỗ trợ nhận diện rủi ro dòng tiền, rủi ro biến động giá than thế giới và đánh giá độ an toàn tín dụng thông qua chỉ số DSCR dưới 1,1 để đưa ra cấu trúc tài trợ vốn vay 1,48 tỷ USD khả thi hơn.

Thứ ba, các chuyên gia và tổ chức nghiên cứu kinh tế môi trường. Luận văn là tài liệu tham khảo điển hình về kỹ thuật ứng dụng mô hình lan truyền Gaussian Plume, phần mềm RiskPoll 1.052 và mô hình ZTCM trong việc quy đổi thiệt hại sinh thái thành giá trị tiền tệ cụ thể.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các khối ngành Kinh tế công, Tài chính dự án và Quản lý năng lượng. Công trình đóng vai trò là một case study mẫu mực về quy trình xây dựng hệ số chuyển đổi giá bóng (CF), phân tích độ nhạy đa chiều và ứng dụng mô phỏng Monte Carlo 10.000 kịch bản ngẫu nhiên.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao dự án Nhiệt điện Vân Phong 1 không khả thi về mặt kinh tế dù giúp bổ sung 6% công suất điện quốc gia?
Dự án có ENPV âm 560,97 triệu USD và EIRR chỉ đạt 6,24%, thấp hơn chi phí cơ hội vốn 10%. Mặc dù cung cấp sản lượng điện lớn cho nền kinh tế, tổng chi phí kinh tế (bao gồm 2.034,45 triệu USD chi phí nhiên liệu và 90,51 triệu USD chi phí ngoại tác ô nhiễm) vượt xa tổng lợi ích kinh tế thu được từ mức sẵn lòng chi trả của người dân.

Chủ đầu tư cần điều chỉnh giá bán điện lên bao nhiêu để dự án hòa vốn tài chính?
Theo mô hình phân tích dòng tiền, ở mức giá bán điện cơ sở 6,15 cent/kWh, FNPV của chủ đầu tư âm 649,71 triệu USD. Để đạt điểm hòa vốn tài chính (FNPV = 0), giá bán điện quy định trong hợp đồng PPA phải đạt giá trị hoán chuyển tối thiểu là 7,25 cent/kWh, tức tăng thêm 1,1 cent/kWh trong điều kiện các thông số chi phí khác không đổi.

Ngoại tác ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến sức khỏe người dân được tính toán dựa trên căn cứ nào?
Tác giả sử dụng mô hình SUWM kết hợp phần mềm RiskPoll 1.052 để lượng hóa phát thải bụi PM10, SO2 và NOx. Tổng chi phí thiệt hại sức khỏe là 12,8 triệu USD mỗi năm (0,1492 cent/kWh). Trong đó, bệnh tử vong mãn tính (CM) chiếm 85% tổng tổn thất kinh tế, theo sau là bệnh viêm phế quản mãn tính chiếm 11% và số ngày hoạt động bị hạn chế chiếm 4%.

Nhà máy nhiệt điện than tác động tiêu cực như thế nào đến ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa?
Mô hình chi phí du hành theo vùng (ZTCM) xác định chi phí sức khỏe của du khách tăng thêm 133 VNĐ/người/chuyến đi. Sự gia tăng chi phí này làm dịch chuyển đường cầu và làm sụt giảm thặng dư tiêu dùng của du khách khoảng 50.825 USD hiện tại, đe dọa trực tiếp đến thương hiệu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp tại vịnh Nha Trang và vịnh Vân Phong.

Rủi ro tài trợ vốn của các ngân hàng thương mại quốc tế (JBIC, SMBC) tại dự án này là gì?
Với khoản vay 1,48 tỷ USD (chiếm 70% tổng vốn đầu tư) ở mức lãi suất từ 6,75% đến 8,5%, dòng tiền dự án không đảm bảo an toàn tài chính. Hệ số khả năng trả nợ DSCR của dự án liên tục nằm dưới mức an toàn 1,1 trong toàn bộ giai đoạn 2017 - 2028, tạo ra nguy cơ chậm trả nợ gốc và nợ lãi kéo dài cho các tổ chức cho vay.

Kết luận

  • Dự án Nhiệt điện than Vân Phong 1 không đạt tính khả thi trên cả hai khía cạnh kinh tế (ENPV = -560,97 triệu USD) và tài chính (FNPV = -742,00 triệu USD).
  • Ngoại tác tiêu cực tới sức khỏe cộng đồng và ngành du lịch biển tạo ra tổn thất xã hội thực tế lên tới 90,51 triệu USD quy về hiện tại.
  • Kết quả mô phỏng Monte Carlo chỉ ra xác suất thành công về mặt kinh tế chỉ đạt 28,05%, đi kèm rủi ro mất khả năng thanh toán nợ vay 1,48 tỷ USD của doanh nghiệp dự án.
  • Luận văn đóng góp khung thẩm định dự án năng lượng toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa mô hình tài chính DCF, mô hình khuếch tán ô nhiễm SUWM và định giá du lịch ZTCM.
  • Cơ quan quản lý nhà nước cần khẩn trương tái cơ cấu Quy hoạch điện VII giai đoạn 2014 - 2020, ưu tiên giải pháp giảm tổn thất truyền tải về mức 6% và thúc đẩy năng lượng sạch thay thế.

Hãy truy cập và tham khảo toàn văn luận văn để nắm vững phương pháp luận thẩm định kinh tế - tài chính mở rộng cho các dự án hạ tầng công cộng quy mô lớn!