Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về công tác tạo động lực Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng công tác tạo động lực làm việc cho cán bộ, giảng viên tại Trường ĐHKT - ĐHQGHN Chương 4: Một số đề xuất nham nâng cao công tác tạo động lực làm việc cho cán bộ, giảng viên tại Trường ĐHKT - DHQGHN Phần III: Kết Luận CHUONG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CO SO LY THUYET VE CONG TAC TAO DONG LUC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tạo động lực Vấn đề về tạo động lực từ lâu đã thu hút rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước. Tùy theo phương pháp tiếp cận mỗi nhà khoa học có một quan điểm khác nhau về động lực thúc day các hoạt động của con người. Liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả, có một số công trình nghiên cứu sau: L1.
Những nghiên cứu nước ngoài Khi nghiên cứu về ngành giáo dục, nhiều nhà nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết tạo động lực làm việc của các nhà nghiên cứu trước đây như lý thuyết về tháp nhu cầu của Maslow (1954), thuyết hai yếu tố của Herzberg (1959), thuyết kỳ vọng của Vroom (1964). Các lý thuyết này đã được phát triển và kiểm định trong những bối cảnh nghiên cứu khác nhau. Trong đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tổ tác động đến động lực làm việc của cán bộ, giảng viên như: tính chất công việc, tiền lương, thu nhập, phần thưởng, sự ghi nhận, cơ hội thăng tiến, môi trường làm việc, lãnh đạo, vi trí xã hội,. Shah và các cộng sự (2012) đã chỉ rõ tác động của tiền thưởng, sự ghi nhận, sự hài lòng với lãnh đạo và tính chất công việc đến động lực làm việc của giảng viên; Bên cạnh đó, nhiều tác giả khác đã nghiên cứu sâu về một nhân tố và cho thấy những tác động của nhân tố này đến động lực làm việc của giảng viên, trong đó phải kể đến nghiên cứu của Barnett và McCormick (2003).
Hai tác gia đã nghiên cứu về tầm nhìn của người lãnh đạo và mỗi quan hệ của nó đến động lực làm việc của giảng viên. Nghiên cứu của Eyal va Roth (2011) cho thay tác động của phong cách lãnh đạo đến động lực làm việc của giảng viên. Theo nghiên cứu của Gũngör (2011) về mối quan hệ giữa phần thưởng và kết quả làm việc của nhân viên ngân hàng tại Istanbul, phần thưởng tài chính có tác động thuận chiêu với kêt quả làm việc của nhân viên. Nghiên cứu này đã cho thây hệ thống phần thưởng có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành động cơ và kết quả của nhân viên ngân hàng ở Istanbul.
Nghiên cứu của Stringer (2011) được thực hiện với tên đề tài là động cơ, sự thỏa mãn về lương, và sự thỏa mãn công việc của nhân viên tiếp xúc trực tiếp với khách hàng. Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá mối quan hệ giữa động cơ bên trong, động cơ bên ngoài, sự thỏa mãn về lương, và thỏa mãn về công việc của nhân viên khi sử dụng kế hoạch trả lương theo năng suất. Nghiên cứu này được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu trường hợp ở 7 cửa hàng, thông qua bảng câu hỏi mở phỏng vấn trực tiếp nhân viên 1 và quản lý. Kết quả nghiên cứu cho thay rằng động cơ bên trong có mối quan hệ với tiền lương và sự thỏa mãn công việc, trong khi đó động cơ bên ngoai có mối quan hệ dương với sự thỏa mãn công việc nhưng không có mối quan hệ với sự thỏa mãn về lương.
Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy rằng công bằng về lương là quan trọng bởi người lao động thường so sánh lương của mình với lương của người khác vì thế họ nhận thấy là không công bằng. Nghiên cứu này khác với các nghiên cứu trước đây vì tác giả cho rằng động cơ bên ngoài không có mối quan hệ với sự thỏa mãn về lương, trong khi đó hàng loạt lý thuyết cho rang lương là một trong những yếu tô quan trọng của động cơ bên ngoài. Kết quả của nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc sử dụng bảng câu hỏi mở vì thế những kết luận của nghiên cứu chưa mang tính đại diện. Những nghiên cứu trong nước Liên quan đến vấn đề tạo động lực, nhiều nhà khoa học tại Việt Nam đã có những nghiên cứu về nhiều lĩnh vực và ngành nghề khác nhau, với từng nhóm đối tượng cụ thé.
Trong đó, mỗi công trình nghiên cứu đều có nội dung và cách tiếp cận riêng phù hợp với những van dé thực tiễn và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. Một số công trình nghiên cứu có liên quan mà tác giả biết như sau: Nghiên cứu của Đỗ Thị Phương Thảo (luận văn thạc sĩ Trường Đại học Kinh tế, 2014) với tên dé tài “Giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực cho các cán bộ và giảng viên của trường Dai hoc Đông A” đã đưa ra những yếu tổ như tiền lương, thu nhập, chế độ và hình thức tưởng thưởng, bồ trí công việc đối với những người đã hoàn thành các khóa đào tạo, bồi dưỡng. ảnh hưởng nhiều nhất đến động lực làm việc của giảng viên. Đề tài luận văn thạc sĩ của Dương Thị Hồng Nhung về “Tạo động lực cho đội ngũ cán bộ giảng viên Trường Đại học Thương mại” (năm 2014) đã phân tích, đánh giá về tạo động lực cho đội ngũ cán bộ giảng viên Trường Đại học Thương mai từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp.
Tran Thị Hồng Vân (2012), “Giải pháp thúc day động lực làm việc cho giảng viên tại trường Cao đăng Phương Đông Đà Nẵng” cũng dựa trên kết quả phân tích để tìm ra giải pháp tạo động lực cho giảng viên phù hợp với cách thức tiếp cận của tác giả. Bài viết: “Mô hình tạo động lực trong các trường đại học công lập” của Cảnh Chí Dũng trên Tạp chí Cộng sản (8/2012) - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã đưa ra: Những nhận thức về mô hình tạo động lực cho các trường đại học công lập; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tạo động lực trong các trường đại học công lập; Các công cụ tạo động lực của tô chức. Từ đó, đưa ra mô hình tạo động lực cho các trường đại học công lập nước ta. Mô hình này nhấn mạnh tới vai trò của chủ thể - hiệu trưởng - trong quá trình tạo động lực.
Hiệu trưởng là người quyết định cuối cùng các chính sách tạo động lực, các hình thức triển khai,. hơn hết, hiệu trưởng là người duy trì sự quyết tâm trong quá trình thực hiện, ảnh hưởng lớn tới văn hóa của trường đại học, giữ vai trò quyết định trong quá trình tạo động lực. Mô hình thể hiện các yếu tố tác động, ảnh hưởng tới động lực của người lao động và quá trình tạo động lực đó là: (i) mục tiêu phát triển của nhà trường, (ii) nhu cầu của chính người lao động, (111) các công cu tạo động lực. Luận án Tiến sĩ Kinh tế nghiên cứu về “Các nhân tố tác động đến động lực làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội” của Nguyễn Thùy Dung (Chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Đại học Kinh tế quốc dân, 2015) đã chứng minh được sự phù hợp của việc vận dụng lý thuyết công bằng và mô hình đặc điểm công việc của Hackman và Oldam (1980) trong đánh giá tác động của các nhân tố đên động lực làm việc của giảng viên.
Luận án đã xây dựng được một mô hình nghiên cứu mới và kiêm định mô hình này trong bối cảnh các trường đại học trên địa bàn Hà Nội. Kết quả cho thấy đặc điểm công việc và một số khía cạnh công bằng trong tổ chức như sự công băng của lãnh đạo trực tiếp, sự công bằng trong thái độ đối xử của sinh viên. có tác động thuận chiều đến động lực làm việc của giảng viên. Theo đó, động lực làm việc của giảng viên bị tác động mạnh bởi các yếu tố thuộc môi trường làm việc trực tiếp của họ là đặc điểm công việc, môi trường làm việc tại khoa/bộ môn (sự công băng của người lãnh đạo trực tiếp) và môi trường lớp học (sự công bằng trong thái độ đối xử của sinh viên).
Bên cạnh đó, trong Luận án Tiến sĩ “Động cơ làm việc của nhân viên khối văn phòng ở Việt Nam”, Nguyễn Thị Phương Dung (Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Trường Dai học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, 2010) đã chỉ ra rằng ngoài yếu tố lương thưởng thì yếu tố thuộc về tâm lý cũng có vai trò khá quan trọng trong việc thúc đây nhân viên làm việc. Mà các yếu tố tâm lý này sẽ giúp cho nhà quan lý tiết kiệm chi phí hơn là các hình thức thúc đây khác. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các nhà lãnh đạo ở Việt Nam nói chung và lãnh đạo nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam nói riêng muốn nâng cao động cơ làm việc của nhân viên thì không chỉ xem xét đến mối quan hệ chính thức trong tô chức mà còn phải đặc biệt chú ý đến các mối quan hệ phi chính thức cả bên trong lẫn bên ngoài tổ chức. Ngoài ra, yếu tố giới tính, tình trạng hôn nhân cũng là yếu t6 quan trọng tác động đến động cơ làm việc của nhân viên.
Bài viết: “Vấn đề tạo động lực làm việc cho giảng viên đại học trong điều kiện hiện nay” của Phạm Hồng Quang (2010) đã nhấn mạnh động lực lao động đang trở thành mục tiêu chiến lược để cạnh tranh giữa các công ty, doanh nghiệp. trong xã hội hiện đại. Với các trường đại học, bên cạnh cơ chế hình thành động lực như những thành phần lao động khác, mục tiêu làm cho mọi giảng viên giảng dạy tốt và nghiên cứu khoa học có hiệu quả luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các cấp quản lý. Đề kiến tạo môi trường giảng dạy - nghiên cứu tốt cho giảng viên, tác giả bài viết cho rằng cần quan tâm đến tính hệ thống của các quan hệ nhà trường: qua trình lịch sử phat triển, điều kiện hiện tại, chính sách quản lý và các hoạt động cụ thé.
Dé làm rõ van dé nay, tac gia bai viết đã đưa ra phương án tạo động lực làm việc cho giảng viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên. Đồng thời cũng đưa ra các biện pháp đồng bộ tạo động lực đôi mới tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên.