Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Chương 3: Thực trạng thanh khoản và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2009-2015 Chương 4: Mô hình nghiên cứu và kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài Về mặt lý luận, luận văn đã lược khảo những nền tảng lý thuyết về thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng, Trên cơ sở tiếp cận các bài nghiên cứu trong và ngoài nước, luận văn đã tập trung đi sâu để tìm hiểu tác động của các chỉ số thuộc về thanh khoản đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại và xây dựng mô hình kiểm định để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các chỉ số thanh khoản và các yếu tố có liên quan đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ phần nào hỗ trợ các nhà quản trị ngân hàng trong việc xác định và dự báo mức độ ảnh hưởng của các chỉ số thanh khoản đến khả năng sinh lời của ngân hàng từ đó có thể đưa ra chính sách quản lý thanh khoản một cách hợp lý mà vẫn đạt được lợi nhuận mong muốn trên cơ sở TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 đảm bảo hoạt động kinh doanh của ngân hàng một cách ổn định, hiệu quả và bền vững. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH KHOẢN VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 2.1 Thanh khoản của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm thanh khoản của ngân hàng thương mại Trần Huy Hoàng (2011) cho rằng “Thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản hay nguồn vốn có thể dùng để chi trả ngay khi có nhu cầu phát sinh với một chi phí hợp lý; một nguồn vốn được coi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh, một tài sản được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa thành tiền nhanh”. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng: “ Thanh khoản là một thuật ngữ chỉ khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như thanh toán, chi trả lãi tiền gửi, cho vay …” Thanh khoản đề cập đến khả năng của một ngân hàng có đủ đảm bảo về khả năng tài chính để đáp ứng được các cam kết tài chính và các nghĩa vụ thanh toán của mình ở một mức giá hợp lý tại mọi thời điểm, cụ thể là đáp ứng các nhu cầu rút tiền của khách hàng. Khi ngân hàng không đáp ứng được các cam kết tài chính và các nghĩa vụ thanh toán kịp thời hoặc ngân hàng phải chịu chi phí cao để đáp ứng các nghĩa vụ này sẽ dẫn đến rủi ro (Olagunij et al, 2011) Thanh khoản thể hiện phạm vi khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của một ngân hàng, nó đại diện cho yếu tố định tính về sức mạnh tài chính của một ngân hàng.
Do đó, thanh khoản có ý nghĩa quan trọng vì thanh khoản giúp ngân hàng đáp ứng nhu cầu vay mới mà không cần phải thu hồi các khoản cho vay trong hạn hay thanh lý các khoản đầu tư, bên cạnh đó nó còn giúp đáp ứng được các yêu cầu về vốn của khách hàng một cách kịp thời và duy trì niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng. Một quyết định quan trọng đối với nhà quản trị là cân đối hài hòa giữa quá trình gửi và cho vay (Kosmidou, 2008). Ngân hàng có khả năng cân đối một cách hợp lý giữa nguồn tiền gửi và nguồn tiền cho vay thì ngân hàng đó có khả năng thanh khoản tốt. Rủi ro thanh khoản phát sinh khi ngân hàng không cân đối hợp lý giữa các nguồn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 tiền ra và vào.
Đa số các nghiên cứu thực nghiệm đo lường tính thanh khoản thông qua tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi của khách hàng. Theo Nwankwo (1991), khả năng thanh khoản tốt cho phép ngân hàng có thể đáp ứng được ba rủi ro. Thứ nhất là rủi ro tài chính trong đó là khả năng duy trì một lượng tiền nhất định để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính. Thứ hai, việc duy trì khả năng thanh khoản hợp lý là rất cần thiết đối với ngân hàng trong việc bù đắp sự thiếu hụt dòng vốn trong trường hợp bên vay không thực hiện được cam kết của họ.
Thứ ba là các rủi ro phát sinh từ việc thực hiện nghĩa vụ đến hạn hay từ yêu cầu vốn của các khách hàng quan trọng. Như vậy, việc duy trì một tỷ lệ thanh khoản hợp lý sẽ giúp ngân hàng đáp ứng được các nghĩa vụ thanh toán bất ngờ hoặc thực hiện việc cấp tín dụng mới. Thanh khoản hợp lý sẽ giúp tránh được việc bắt buộc bán các tài sản trong điều kiện thị trường bất lợi và giảm bớt thiệt hại. Việc duy trì một tỷ lệ thanh khoản hợp lý cũng sẽ có lợi trong việc đảm bảo niềm tin của người gửi tiền trong việc đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn, giúp ngân hàng có thể thực hiện được tất cả các cam kết của mình.
Duttweiler (2009) đề cập đến hai khía cạnh khác nhau về thanh khoản đó là thanh khoản tự nhiên và thanh khoản nhân tạo. Thanh khoản tự nhiên nghĩa là các dòng lưu chuyển xuất phát từ tài sản nợ nhưng có thời gian đáo hạn như luật định. Thanh khoản nhân tạo được tạo ra thông qua khả năng chuyển tài sản thành tiền mặt trước ngày đáo hạn. Để hạn chế rủi ro trong hệ thống ngân hàng, Ủy ban Basel ra đời và ban hành hệ thống đo lường vốn Basel.
Hiệp ước Basel I được ban hành năm 1988 và có hiệu lực từ 1992, sau đó Basel II ra đời ngày 26/6/2004 sau khi cải tiến và sửa đổi Basel I nhiều lần để phù hợp với những thay đổi của thị trường. Sau khủng hoảng tài chính 2008, Ủy ban giám sát ngân hàng Basel đã phải ban hành những quy tắc bổ sung để nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro cho các ngân hàng và Basel III ra đời, bên cạnh những yêu cầu vốn chặt chẽ hơn, Basel III còn đưa ra những tiêu chuẩn về thanh khoản đối với hệ thống NHTM. Basel III đã thiết lập một khuôn khổ về quản lý rủi ro gồm chỉ số đảm bảo thanh khoản được đưa vào áp dụng chính thức năm 2015 và chỉ số tài trợ ổn định ròng dự kiến được đưa vào áp dụng năm 2018. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Để có được sự ổn định trong hệ thống tài chính thì phải đáp ứng được các quy định về thanh khoản và an toàn vốn.
Basel III yêu cầu các ngân hàng duy trì lượng vốn cấp 1 là 6% và vốn cấp 2 là 4,5% ( Basel II lần lượt là 4% và 2%). Basel III phát triển hai tiêu chuẩn tối thiểu về thanh khoản tài trợ: chỉ số đảm bảo thanh khoản (LCR) đo lường rủi ro thanh khoản ngắn hạn và chỉ số tài trợ ổn định ròng (NSFR) đo lường rủi ro thanh khỏan dài hạn. Mục tiêu của chỉ số đảm bảo thanh khoản là thúc đẩy khả năng phục hồi thanh khoản ngắn hạn của một ngân hàng bằng cách đảm bảo rằng ngân hàng nắm giữ đủ tài sản có thanh khoản cao có khả năng chuyển đổi thành tiền nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong thời gian 30 ngày dưới tình trạng căng thẳng thanh khoản nghiêm trọng. Chỉ số tài trợ ổn định ròng yêu cầu các ngân hàng phải có sẵn nguồn tài chính dưới dạng quỹ bình ổn để có thể đối phó với thời kỳ khó khăn tối thiểu là 1 năm.2 Đo lường khả năng thanh khoản của ngân hàng Đánh giá về khả năng thanh khoản của một ngân hàng là rất quan trọng.
Tính thanh khoản không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố khách quan bên ngoài mà còn bị ảnh hưởng bởi những yếu tố bên trong. Theo Trần Huy Hoàng (2011), phương pháp đo lường thanh khoản cổ điển và phổ biến là phương pháp tiếp cận các chỉ số thanh khoản, nhu cầu thanh khoản được ước tính dựa trên các chỉ số của trạng thái thanh khoản, bao gồm: Tỷ lệ an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio - CAR): là thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng, phản ánh sức khỏe của hệ thống ngân hàng nói riêng và tổ chức tín dụng nói chung, nó được tính bằng tỷ lệ vốn tự có (tổng vốn cấp 1 và vốn cấp 2) trên tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng, thường được dùng để bảo vệ người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống. Bằng tỷ lệ này có thể xác định được khả năng của ngân hàng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành. Khi tính toàn tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, người ta xét đến hai loại vốn là vốn cấp 1 và vốn cấp 2, trong đó vốn cấp 1 được xem là có độ tin cậy và an toàn cao hơn.
Ngoài việc đảm bảo CAR theo quy định thì các ngân hàng cò phải đảm bảo tổng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 vốn cấp 2 không được vượt quá 100% vốn cấp 1. Tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu đưa ra một yêu cầu vốn cần thiết mà ngân hàng cần phải duy trì để đối phó với rủi ro từ hoạt động của ngân hàng. Rủi ro ứng với mỗi ngân hàng cần phải được đánh giá một cách chính xác.Trong Basel II và gần đây nhất là Basel III, rủi ro của từng tài sản có của ngân hàng được xác định thông qua kết quả đánh giá của các tổ chức xếp hạng độc lập hoặc dựa vào hệ thống đánh giá nội bộ của ngân hàng. Theo Thông tư 13 của NHNN, các khoản để tính vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia, thặng dư cổ phần được tính vào vốn theo quy định của pháp luật trừ đi phần dùng để mua cổ phiếu quỹ (nếu có).