Chương 1 là phần giới thiệu chung. Phần này giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu cũng như ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2 trình bày tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm. Các lý thuyết liên quan đến đề tài làm cơ sở lý luận cho bài nghiên cứu và các nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành trong và ngoài nước liên quan đến đề tài được trình bày cụ thể trong chương này.
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu. Chương 4 đưa ra kết quả nghiên cứu tại Việt Nam. Chương 5 là phần kết luận. Chương này tóm tắt kết quả nghiên cứu thực nghiệm, đưa ra những hạn chế của đề tài từ đó đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Chương 2. Tổng quan về lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây. Lý thuyết về mô hình đa nhân tố. Các nhà kinh tế ủng hộ mô hình đa nhân tố Fama-French1 cho rằng giá cả của tài sản có phản ứng với các sự kiện kinh tế.
Những thay đổi trong kinh tế vĩ mô tác động đến giá cả tài sản nhiều hơn những nhân tố khác và cũng có những nhân tố không có ảnh hưởng gì cả. Do vậy, vấn đề những yếu tố kinh tế nào có ảnh hưởng đáng kể lên sự biến động giá của tài sản được cố gắng giải quyết bởi rất nhiều các nghiên cứu thực nghiệm thông qua việc sử dụng các mô hình đa nhân tố. Nhiều loại mô hình đa nhân tố đã được đề xuất và nghiên cứu, tùy thuộc vào loại nhân tố sử dụng mà chúng được phân chia thành 3 loại chính như sau: Mô hình nhân tố vĩ mô (Macro economic factor models): Các nhân tố là những bất thường trong các biến số vĩ mô (tăng trưởng GDP, lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá trị sản xuất công nghiệp, doanh số bán lẻ, xuất khẩu…) có thể giải thích đáng kể tỷ suất sinh lợi của chứng khoán. Các nhân tố này được cho rằng sẽ ảnh hưởng đến dòng tiền kỳ vọng trong tương lai của công ty hoặc đến lãi suất chiết khấu dòng tiền tương lai về hiện tại.
Mô hình này thường được sử dụng phổ 1 Fama và French (1992) khám phá ra rằng beta của CAPM không giải thích được suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán Mỹ thời kỳ 1963-1990. Fama-French bắt đầu quan sát hai lớp cổ phiếu có khuynh hướng tốt hơn so với toàn bộ thị trường. Thứ nhất là cổ phiếu có vốn hóa nhỏ (small caps) hay còn gọi là quy mô nhỏ. Thứ hai là cổ phiếu có tỷ số giá sổ sách trên giá thị trường BE/ME (Book to Market Equity) cao.
Họ đưa thêm hai nhân tố này vào CAPM để phản ánh sự nhạy cảm của danh mục đối với hai loại cổ phiếu này. Sau khi được giới thiệu vào năm 1993, mô hình ba nhân tố của hai tác giả Fama-French để lượng hóa mối quan hệ giữa rủi ro và suất sinh lợi đã được kiểm định là có hiệu quả tại các thị trường chứng khoán phát triển cũng như mới nổi. Mô hình ba nhân tố Fama-French (1993) cho rằng suất sinh lợi của một danh mục đầu tư hoặc một cổ phiếu riêng biệt phụ thuộc vào 3 yếu tố đó là: yếu tố thị trường, yếu tố quy mô công ty và yếu tố giá trị sổ sách trên giá trị thị trường BE/ME. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 biến nhất trong phân tích tác động của các nhân tố lên tỷ suất sinh lợi của chứng khoán.
Mô hình các nhân tố cơ bản (Fundamental factor models): Các nhân tố đặc trưng của cổ phiếu hoặc công ty đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích sự khác nhau của giá các cổ phiếu tại một thời điểm. Các mô hình nhân tố cơ bản thường được sử dụng là tỷ số giá trị thị trường/giá sổ sách của cổ phiếu (P/BV), giá trị vốn hóa (market capitalization), chỉ số giá trên thu nhập (P/E) và đòn bẩy tài chính (finance leverage). Mô hình này thường sử dụng để phân tích thành phần đóng góp vào hiệu quả của danh mục và phân tích rủi ro. Mô hình các nhân tố thống kê (Statistical factor models): Phương pháp thống kê được áp dụng cho một tập hợp các tỷ suất sinh lợi quá khứ để xác định những danh mục có thể giải thích Tỷ suất sinh lợi quá khứ theo một trong hai hướng sau: Trong mô hình phân tích nhân tố (factor analysis models), các nhân tố là những danh mục giải thích tốt nhất hiệp phương sai của TSSL quá khứ.
Trong mô hình phân tích thành phần chính (Principal component analysis models), nhân tố là những danh mục giải thích tốt nhất phương sai của TSSL quá khứ. Các mô hình trên có thể được kết hợp để tạo ra mô hình các nhân tố hỗn hợp (mixed factor models). Mô hình đa nhân tố phổ biến nhất là lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage Pricing Theory – APT). APT được giới thiệu bởi Ross (1976), đã chỉ ra rằng có nhiều rủi ro trong nền kinh tế mà không thể loại trừ được thông qua đa dạng hóa.
Nguồn gốc của những rủi ro này có thể được cho là có liên quan đến các nhân tố kinh tế vĩ mô. Thay vì tính toán một Beta (β) như CAPM thì APT tính toán nhiều β thông qua việc ước lượng độ nhạy cảm của Tỷ suất sinh lợi của một tài sản đối với những thay đổi của từng nhân tố. Lý thuyết APT dựa trên hai ý tưởng căn bản: thứ nhất, tỷ suất sinh lợi của các chứng khoán có thể được mô tả bằng các mô hình nhân tố và thứ hai, các cơ hội TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 kinh doanh mua bán song hành không tồn tại. Sử dụng hai giả định này, chúng ta có thể xác định một phiên bản đa nhân tố của phương trình CAPM về tỷ suất sinh lợi mong đợi và rủi ro, phương trình mà chúng ta nhấn mạnh đến tỷ suất sinh lợi của của mỗi chứng khoán như là một hàm số các beta nhân tố của chúng.
Nghiên cứu nước ngoài. Từ khi mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) và lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT) ra đời, các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố rủi ro đối với tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng được phát triển một cách nhanh chóng. Với đề tài nghiên cứu này, một số nghiên cứu kinh điển áp dụng mô hình hồi quy hai nhân tố, cụ thể là nghiên cứu về vấn đề, ngoài nhân tố thị trường, sự thay đổi của nhân tố lãi suất tác động đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng như nghiên cứu của Stone (1974), Lloyd và Shick (1977), Lynge và Zumwalt (1980), Chance và Lane (1980), Flannery (1981). Bằng cách sử dụng mô hình hồi quy hai nhân tố bao gồm nhân tố thị trường và nhân tố lãi suất tác động lên tỷ suất sinh lợi ngân hàng với giả định phương sai sai số không đổi, các nghiên cứu đưa ra những kết quả tác động về chiều và mức độ khác nhau.
Các nghiên cứu được đưa ra để mở rộng mô hình CAPM bằng cách đưa thêm vào mô hình các thông tin về kinh tế vĩ mô, các ảnh hưởng của ngành, đặc điểm của từng doanh nghiệp. Stone (1974) là tác giả đầu tiên sử dụng một phương pháp khác mô hình CAPM, đưa vào mô hình hồi quy hai nhân tố với nhân tố thứ nhất là tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu và nhân tố thứ hai là tỷ suất sinh lợi của chỉ số trái phiếu. Tác giả cho rằng lãi suất hệ thống là một nhân tố ngoài nhân tố thị trường theo mô hình lý thuyết định giá tài sản vốn, có thể tác động đáng kể đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của ngân hàng thương mại. Sử dụng mô hình của Stone (1974) để kiểm định, Lloy và Shick (1977) sử dụng tỷ suất sinh lợi của ngân hàng và tỷ suất sinh lợi của chỉ số ngành công nghiệp Dow Jones đồng thời tác giả đưa vào mô hình tỷ suất sinh lợi trái phiếu dài hạn như là nhân tố thứ hai của mô hình.
Tác giả đưa ra bằng chứng cho thấy lãi suất là yếu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 tố giải thích tương đối yếu độ biến động tỷ suất sinh lợi của ngân hàng. Tỷ suất sinh lợi của chỉ số trái phiếu được đưa vào mô hình có tác dụng làm tăng thêm khả năng giải thích của mô hình. Chane và Lane (1980) cho ra kết quả ngược lại với hai tác giả trên rằng nhân tố lãi suất không có ý nghĩa trong quá trình tạo ra tỷ suất sinh lợi. Trong khi đó, Flannery (1981) phát triển phương pháp ước lượng kì hạn tài sản và nợ trung bình đối với mẫu bao gồm các ngân hàng lớn tại Mỹ.
Mô hình hồi quy được kiểm định để xác định liệu sự bất ổn trong lãi suất có tác động đến lợi nhuận của ngân hàng hay không. Kết quả cho thấy các ngân hàng lớn có khả năng quản trị rủi ro để hạn chế rủi ro thị trường bằng cách đi vay kì hạn dài và cho vay kì hạn ngắn, tập hợp danh mục tài sản và nợ thành kì hạn trung bình giống nhau. Do vậy, bài nghiên cứu đưa ra kết luận rằng chi phí và lợi nhuận của ngân hàng không bị tác động bởi lãi suất. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu trên không được thừa nhận bởi Lynge và Zumwalt (1980).
Trong nghiên cứu của Lynge và Zumwalt (1980), tác giả cũng kiểm định sự tồn tại của nhân tố lãi suất ngoài nhân tố thị trường trong việc xác định tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng. Khác với nghiên cứu của Stone (1974), tác giả đưa vào mô hình nhân tố thứ hai là tỷ suất sinh lợi của trái phiếu nhưng được tách ra thành tỷ suất sinh lợi của trái phiếu ngắn hạn và tỷ suất sinh lợi của trái phiếu dài hạn như là mô hình ba nhân tố và tác giả kết luận rằng tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng bị tác động ngược chiều và có ý nghĩa bởi lãi suất. Ngoài ra, giống như nhiều doanh nghiệp khác, ngành ngân hàng có thể chịu tác động của sự bất ổn trong tỷ giá. Rủi ro tỷ giá có thể tác động trực tiếp đến ngân hàng thông qua hoạt động huy động vốn, cho vay và hoạt động kinh doanh ngoại hối.
Cùng với việc toàn cầu hóa thị trường tài chính và tăng trưởng nhanh trong hoạt động kinh doanh quốc tế. Rủi ro tỷ giá trở thành một yếu tố rủi ro ngoài thị trường tác động đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng.