Chương 1: Giới thiệu chung, trong chương này tác giả làm rõ lý do chọn đề tài để từ đó xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu cũng như trình bày phương pháp nghiên cứu, bên cạnh đó cũng nêu lên ý nghĩa của đề tài để thấy rõ đây là một nghiên cứu có giá trị thực tế ở Việt Nam. Chương 2: Cơ sở lý luận, để xây dựng nền tảng lý thuyết cho bài nghiên cứu của mình. Chương này trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết về tài chính hành vi và giới TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 thiệu hành vi bầy đàn trên thị trường tài chính, cũng như tóm lược lại một số các nghiên cứu trước đây trên thế giới và ở Việt Nam. Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, nhằm thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra do đó chương này mô tả dữ liệu cũng như trình bày cụ thể phương pháp, mô hình nghiên cứu, cũng như cơ sở lý luận hình thành các biến đo lường.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu, tất cả kết quả thu được từ quá trình phân tích sẽ được tác giả trình bày cụ thể trong chương này. Chương 5: Kết luận, mục đích chính của chương này là tóm tắt lại kết quả nghiên cứu của tác giả và khẳng định lại vấn đế nghiên cứu, những điểm còn hạn chế của nghiên cứu và đề xuất cho những nghiên cứu tiếp theo. Ý nghĩa của việc nghiên cứu Đề tài nghiên cứu này nhằm kiểm chứng rằng hành vi bầy đàn có thực sự tồn tại trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn hiện nay hay không? Vì hành vi bầy đàn là hành vi mà nhà đầu tư có xu hướng quan sát và bắt chước các quyết định của các nhà đầu tư khác thay vì tự đưa ra những chiến lược kinh doanh dựa trên nguồn thông tin và phân tích của bản thân. Do vậy, giá cổ phiếu chưa phản ánh đầy đủ những thông tin thị trường và giá trị thực của cổ phiếu đó.
Nếu hành vi bầy đàn quá mạnh sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định đầu tư. Do vậy hiểu biết về hành vi bầy đàn và biết được nó có tồn tại trên thị trường hay không là một yếu tố quan trọng khi đánh giá hiệu quả thị trường và hành vi của nhà đầu tư. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2. Sơ lược về tài chính hành vi Thuyết tài chính cổ điển thường tập trung vào định lượng thực tế để dễ dàng trong phân tích.
Tuy nhiên việc này thường gặp khó khăn trong đo lường các tỷ số, giá, lợi suất hoặc độ tăng trưởng. Điều này thường dẫn đến phải đơn giản hóa thực tế vì số liệu của các tham số giải thích trong mô hình bị giới hạn. Kiểu phân tích này đã bỏ qua một số thước đo mềm quan trọng như hành vi của con người sau những con số. Trong suốt thập niên 90, nhiều nghiên cứu đã chuyển từ thuyết tài chính cổ điển sang mô hình có yếu tố tâm lý con người với hành vi của thị trường tài chính.
Từ đó, thuyết Tài chính hành vi ra đời. Đó là sự kết hợp của tài chính, khoa học xã hội và tâm lý. Nó phản bác lại thuyết tài chính cổ điển và thuyết thị trường hiệu quả – nền tảng cơ bản của nhiều mô hình tài chính. Barber và Odean (1999) xem thuyết Tài chính hành vi là một bộ lý thuyết mới cho phép các nhà đầu tư hành động bất hợp lý và thị trường là không hiệu quả, nhờ đó ta có thể hiểu rõ hơn về thị trường tài chính.
Thuyết thị trường hiệu quả đã từng là tiền đề quan trọng của tài chính và là cơ sở hình thành của hầu hết các thuyết tài chính truyền thống. Fama (1970) đưa ra giả thuyết với giả định là giá cổ phiếu hoàn toàn phản ánh hết các thông tin có sẵn bao gồm cả thông tin nội bộ, tất cả nhà đầu tư đều được tiếp cận thông tin này và hành động hợp lý, hay có thể hiểu là không thể đánh bại thị trường. Thị trường thực tế được chia ra thành 3 loại khác nhau tùy thuộc vào mức độ đáp ứng các yêu cầu của thị trường hiệu quả là thị trường hiệu quả dạng yếu, dạng trung bình và dạng mạnh. Về mặt lý thuyết thì trong thị trường hiệu quả dạng yếu nhà đầu tư có thể kiếm thêm thu nhập thặng dư bằng cách phân tích lịch sử giá và lợi suất.
Với dạng trung bình thì cho phép kiếm thêm thu nhập dựa vào thông tin nội bộ. Ở thị trường hiệu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 quả thực sự thì giá cổ phiếu tương lai là không thể dự đoán trước được nếu dựa trên giá hiện tại vì nó đã phản ánh toàn bộ thông tin và giả định nó theo một hướng ngẫu nhiên vì tất cả thông tin mới đều được phản ánh ngay lập tức vào giá. Nghĩa là, giá cổ phiếu có thể lên hoặc giảm. Theo Fama (1970), một ý nghĩa quan trọng của thị trường hiệu quả một cách hoàn hảo là nó quy định các chiến lược đầu tư và ngầm hiểu là sẽ tốt hơn nếu nắm giữ danh mục thị trường một cách thụ động.
Việc đánh bại thị trường là điều không tưởng. Mặc dù hầu hết các thị trường không được xem là cực kỳ hiệu quả nhưng lý thuyết tài chính truyền thống vẫn được xây dựng trên giả thuyết thị trường hiệu quả này. Quan điểm về sự hợp lý của nhà đầu tư là nền tảng chính của Tài chính hành vi và là điểm khác biệt chủ yếu với giả định của thuyết thị trường hiệu quả. Tuy nhiên, một thị trường mà các nhà đầu tư hành động hợp lý hoàn hảo khó có thể xảy ra.
Các nhà đầu tư có xu hướng chạy theo hành vi đầu tư chủ động thay vì theo chiến lược thụ động như trong giả định của thuyết thị trường hiệu quả (EHM). Có rất nhiều ví dụ về lý do tại sao nhà đầu tư không hành động hợp lý. Khi có thông tin mới thì rất khó để phân tích hoặc không dễ dàng tiếp nhận nó, tất cả nhà đầu tư có thể không chấp nhận thông tin mới vào việc định giá cổ phiếu của họ. Kết quả là giá cổ phiếu trên thị trường không còn phản ánh tất cả thông tin và giá đó cũng không chính xác.
Shiller (1984) cho rằng nhà đầu tư không suy nghĩ và hành động có lý, bởi lòng tham và nỗi sợ hãi, nhà đầu tư suy đoán giá cổ phiếu giữa mức cao và thấp không thực tế. Nói cách khác, nhà đầu tư bị lệch hướng bởi cảm xúc, suy nghĩ chủ quan và tác động của đám đông tạo thành kỳ vọng bất hợp lý cho việc thực hiện trong tương lai của các công ty và nền kinh tế tổng thể. Hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán 2. Định nghĩa về hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán Có rất nhiều định nghĩa về hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Banerjee (1992) định nghĩa hành vi bầy đàn là cách nhà đầu tư đưa ra quyết định bằng cách bắt chước các nhà đầu tư khác thay vì dựa vào thông tin của cá nhân mình.
Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn chưa nói rõ nguyên nhân gây ra hiện tượng này. Một số nghiên cứu khoa học cho rằng hiện tượng này là hợp lý và nội tại, trong khi số khác nói rằng nó vi phạm học thuyết định giá tài sản hợp lý. Sau đó, nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung áp dụng các biện pháp kinh tế khác nhau để phát hiện hành vi bầy đàn. Christie và uang (1995) là người tiên phong và phương pháp của họ vẫn còn phổ biến và sử dụng đến tận ngày nay.
Nghiên cứu của họ là nền tảng cho hướng nghiên cứu rộng hơn của Chang, Cheng và Khorana (2000). Hành vi bầy đàn thường được thảo luận trong bối cảnh của thị trường hiệu quả. Theo Hwang và Salmon (2004) thì sự xuất hiện của bầy đàn trên thị trường là trái ngược với giả định của thuyết thị trường hiệu quả. Họ lập luận rằng hành vi bầy đàn đẩy giá chứng khoán ra xa khỏi giá trị cân bằng mà thuyết tài chính truyền thống đưa ra như mô hình định giá tài sản vốn, từ đó dẫn đến giá cổ phiếu sẽ không còn phản ánh giá trị thực sự của công ty.
Đó là lý do tại sao hành vi bầy đàn thường được đặt trong bối cảnh hành vi thị trường cực đoan, đặc biệt khi thị trường sụp đổ hoặc có bong bóng. Mặc dù thuật ngữ “hành vi bầy đàn” thường được sử dụng nhưng nó vẫn là một khái niệm mơ hồ. Ngoài thế giới học thuật thì từ này vẫn được sử dụng mà không có một định nghĩa phù hợp. Nguồn gốc của thuật ngữ này xuất phát từ việc so sánh hành vi của nhà đầu tư với tính cách của động vật, tức là các nhà đầu tư sẽ làm theo người khác một cách mù quáng như những con cừu hoặc con chuột lemmut khi có hiện tượng bầy đàn.
Trong các nghiên cứu học thuật, một định nghĩa khác được ưa chuộng hơn là của Banerjee (1992) phát biểu như sau “mọi người hành động theo người khác dù cho thông tin cá nhân của họ lại cho biết họ nên làm khác đi”. wang và Salmon (2007) giải thích rằng đây là hành động theo một xu hướng thị trường hoặc những tín hiệu khác về cách các nhà đầu tư khác hành động trên thị trường. Những định nghĩa này TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 đều tương tự nhau và cùng hàm ý là nhà đầu tư lơ là trong việc thu thập thông tin để hành động theo người khác. Tuy nhiên, Saastamoinen (2008) đưa ra một định nghĩa có hơi khác một chút, đề cập trực tiếp về 1 cách phổ biến để đo lường hành vi bầy đàn, định nghĩa đó được phát biểu như sau “độ phân tán tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu giảm hoặc tăng lên nhưng với tốc độ thấp hơn của tỷ suất sinh lợi của thị trường”.
Định nghĩa này không đề cập đến cách xuất hiện hành vi bầy đàn và cách các nhà đầu tư được cho là sẽ hành động. Nó chỉ đơn thuần tập trung vào phương pháp kĩ thuật phát hiện hành vi bầy đàn. Bài nghiên cứu này sử dụng cả 2 cách định nghĩa trên. Phương pháp sử dụng tương tự với của Saastamoinen nên định nghĩa của ông là thích hợp nhất.
Nguồn gốc hình thành nên hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán Để hiểu rõ lý do cơ bản hình thành nên hành vi bầy đàn, chủ thể thị trường được chia thành hai nhóm cá nhân và chuyên gia đầu tư.