chương I nói về bất động sản và chương II nói về động sản). Trong thiên II quyển thứ hai của Bộ luật này nói về quyền sở hữu đã ghi nhận cách phân loại khác đó là tài sản bao gồm vật, các vật quyền và các tố quyền nhằm đòi lại tài sản. BLDS Đức 1900 cũng không có định nghĩa cụ thể về tài sản nhưng xuyên suốt các quy định của bộ luật này người ta có thể hiểu rằng tài sản theo nghĩa pháp lý không chỉ là vật mà chủ yếu là các quyền. Cách nhận thức về tài sản của các nước theo hệ thống luật Châu Âu lục địa cũng khá tương đồng với các nước theo họ Pháp luật Anh - Mỹ.
Các nước theo họ pháp luật Anh – Mỹ cho rằng tài sản là một tập hợp các quyền trên vật có hiệu lực chống lại những sự xâm hại của các chủ thể khác. Các luật gia Hoa Kỳ cho rằng, tài sản là các quyền giữa mọi người có liên quan tới vật, hay nói cách khác, bao gồm một hệ thống các quyền được thừa nhận về mặt pháp lý do ai đó thủ đắc trong mối liên hệ với những người khác mà liên quan tới vật. Họ coi tài sản là “một mớ quyền” (a bundle of rights) điều này có nghĩa là tài sản là một tập hợp các quyền trên vật có hiệu lực chống lại những người khác. Sự chống lại hay quyền loại trừ được các luật gia Hoa Kỳ xem là xương sống của tập hợp các quyền và diễn đạt ý tưởng về sự độc quyền của chủ sở hữu đối với tài sản [8].
16 Qua các phân tích nêu trên có thể nhận thấy rằng mặc dù có sự thể hiện khác nhau tuy nhiên các hệ thống pháp luật trên thế giới có cách hiểu này khá tương đồng với nhau về khái niệm pháp lý của tài sản. Tài sản chính là tổng hợp các quyền của chủ thể có tài sản và đối kháng với các chủ thể khác. Các quyền đó được phân loại theo các tiêu chí khác nhau và được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Tuy nhiên ở Việt Nam các luật gia lại có cách quy định khác về khái niệm tài sản.
Điều 163 BLDS 2005 có đưa ra khái niệm “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.” Cách quy định này của BLDS 2005 thực chất chỉ mang tính liệt kê những đối tượng nào được coi là tài sản theo pháp luật Việt Nam. Mặc dù khái niệm tài sản trong BLDS 2005 đã được sửa đổi một cách hợp lý hơn so với BLDS 1995 tuy nhiên vẫn có nhiều tranh luận khác nhau về khái niệm này. Theo quan niệm của luật Việt Nam hiện hành thì khái niệm tài sản bao gồm cả quyền tài sản và quyền tài sản được coi là một loại tài sản cơ bản bên cạnh các loại tài sản khác là vật, tiền và giấy tờ có giá. Chính vì quan niệm nội hàm khái niệm tài sản trong các hệ thống pháp luật khác nhau là khác nhau nên cách hiểu về khái niệm quyền tài sản trong các hệ thống pháp luật cũng có điểm khác biệt.
Khái niệm quyền tài sản là một khái niệm khá mới trong nền khoa học pháp lý ở nước ta nên cho đến hiện nay trong giới nghiên cứu luật học ở Việt Nam vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau về khái niệm quyền tài sản. Hiện nay trong giới nghiên cứu luật ở Việt Nam, các chuyên gia đã đưa ra một số quan điểm khác nhau về khái niệm quyền tài sản như sau: Cách hiểu chính thống của các nhà làm luật Việt Nam về quyền tài sản được ghi nhận tại điều 181 BLDS 2005 đó là “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”. Thực ra quy định tại Điều 181 BLDS 2005 chưa phải là khái niệm quyền tài sản mà chỉ nêu ra hai yêu cầu cơ bản để một quyền được coi là quyền tài sản đó là phải trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự. Việc nêu ra hai yêu cầu cơ bản này của quyền tài sản nhằm mục đích phân biệt các quyền tài sản với các quyền không mang tính tài sản.
17 Một quyền muốn được coi là tài sản thì trước hết quyền đó phải trị giá được bằng tiền. Đây là đặc điểm nhằm phân biệt quyền tài sản với quyền nhân thân. Quyền nhân thân được ghi nhận trong BLDS là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (điều 24 BLDS 2005). Quyền nhân thân là các quyền liên quan đến giá trị tinh thần và gắn liền với mỗi cá nhân, quyền nhân thân cũng là nội dung cơ bản của phạm trù nhân quyền.
Chính vì vậy quyền nhân thân không thể trị giá được bằng tiền mà chỉ có các quyền tài sản mới có thể trị giá được bằng tiền. Giá trị của quyền tài sản có được thông qua các hình thức pháp lý khác nhau như : thông qua hợp đồng dân sự như quyền đòi nợ, quyền sử dụng tài sản thuê. hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho như quyền sử dụng đất, quyền khai thác khoáng sản hoặc thông qua hoạt động sáng tạo ra tác phẩm hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu công nghiệp. Có một số quyền tài sản gắn liền với yếu tố nhân thân như quyền tác giả và các quyền liên quan và trong một số trường hợp yếu tố nhân thân ảnh hưởng lớn đến giá trị của quyền tài sản đó ví dụ như tác phẩm của một họa sĩ nổi tiếng sẽ có giá trị lớn hơn rất nhiều so với tác phẩm của một họa sĩ bình thường.
Các quyền sở hữu trí tuệ là các quyền vô hình và giá trị của các quyền đó có thể thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nên việc định giá tài sản trí tuệ là rất khó. Đặc tính cơ bản thứ hai của quyền tài sản theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành đó là quyền đó có thể được chuyển giao trong giao lưu dân sự. Điều này có nghĩa quyền tài sản phải là quyền được tự do lưu thông trong các giao dịch dân sự. Tuy nhiên với yêu cầu này của điều 181 BLDS 2005 thì còn nhiều loại quyền mang tính chất tài sản có nghĩa là có thể được định giá bằng tiền nhưng không thể tự do chuyển giao trong giao dịch dân sự như các quyền tài sản gắn liền với nhân thân (quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế…) thì không phải là quyền tài sản.
Như vậy nội hàm của khái niệm quyền tài sản trong pháp luật Việt Nam dường như có sự khác biệt so với pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới. Ví dụ: trong Luật về quyền tài sản của Trung Quốc được ban hành vào ngày 16 tháng 3 18 năm 2007 thì khái niệm quyền tài sản được ghi nhận như một loại quyền đối lập hoàn toàn với quyền nhân thân đó chính là “quyền tài sản là quyền có thể được định giá bằng tiền”. Khái niệm quyền tài sản trong Luật Trung Quốc có nội hàm rộng hơn khái niệm đó trong luật Việt Nam vì còn bao gồm cả các quyền gắn với nhân thân nhưng lại có tính cách tài sản. Cũng theo quan điểm của các nhà làm luật thì thông qua định nghĩa tại điều 181 và các quy định khác của BLDS 2005, khác với vật (tài sản hữu hình) quyền tài sản là tài sản vô hình.
Để tồn tại với ý nghĩa là tài sản vô hình thì ngoài việc đáp ứng được hai điều kiện được nêu ở điều 181, các tài sản vô hình còn phải có một số đặc điểm sau [2, tr. 426]: Đầu tiên, tài sản vô hình cần phải nhận dạng được. Việc nhận dạng tài sản vô hình có thể thông qua một số chứng cứ hữu hình để có thể mô tả được loại tài sản vô hình đó. Ví dụ: một sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, khoa học – công nghệ nếu mới chỉ hình thành trong ý nghĩ của người sáng tạo chúng thì chưa được coi là tác phẩm và người có ý nghĩ đó chưa được bảo hộ quyền tác giả mà ý nghĩ đó phải được thể hiện dưới một dạng vật chất nhất định thì mới được bảo hộ (điều 737 BLDS 2005); hay các quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa.
thì quyền sở hữu các đối tượng này được thể hiện bằng giấy chứng nhận do các cơ quan nhà nước cấp. Quyền sử dụng đất hay quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề thể hiện ở giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thỏa thuận sử dụng hạn chế bất động sản liền kề được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Các trái quyền được ghi nhận trong hợp đồng, trong quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc một số loại quyền được ghi nhận tại giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như là giấy phép khai thác khoáng sản. Đây là một điều kiện quan trọng để một quyền vô hình được coi là tài sản vì nếu không thể nhận biết được thì pháp luật cũng như các chủ thể khác không thể công nhận và tôn trọng quyền của chủ sở hữu đối với loại tài sản đó và nếu không thể nhận biết được thì bản thân chủ sở hữu quyền tài sản đó cũng không thể thực hiện quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản của mình.
19 Tiêu chí thứ hai là phải nhận biết được thời điểm bắt đầu cũng như kết thúc quyền tài sản đó. Việc nhận biết sự tồn tại của quyền tài sản cũng việc dựa trên các bằng chứng, tài liệu xác nhận quyền tài sản như đã phân tích ở trên. Đối với các vật quyền thì ngoài các căn cứ nói trên, ở một số nước có thiết lập hệ thống đăng ký các vật quyền tạo điều kiện cho tất cả các chủ thể quan tâm có thể biết được về sự tồn tại của vật quyền đó. Tiêu chí thứ ba là chủ sở hữu tài sản vô hình được pháp luật bảo vệ khi quyền sở hữu bị xâm phạm thì chủ sở hữu cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý khi thực hiện quyền sở hữu các loại tài sản vô hình này [58, tr.
Thực ra đây là yếu tố luật định mà không phải chỉ là đặc điểm riêng của quyền tài sản mà còn là đặc điểm của tài sản nói chung.