Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm Chương 3: Thực trạng vấn đề sở hữu chéo tại các NHTM Việt Nam Chương 4: Phân tích thực nghiệm về tác động của sở hữu chéo đến cho vay Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách download by : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ SỞ HỮU CHÉO 2. Cơ sở lý thuyết về sở hữu chéo Sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng là một thuộc tính khách quan và đã tồn tại từ lâu ở nhiều nền kinh tế trên thế giới, đặc biệt ở các quốc gia mà hệ thống tài chính phát triển dựa trên hoạt động ngân hàng (bank-based), điển hình là Đức, Nhật và Ý. Bằng chứng của Đức và Nhật đã cho thấy sở hữu chéo giữa ngân hàng và doanh nghiệp là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự thành công của quá trình công nghiệp hóa ở cả hai quốc gia này. Trong khi đó, vấn đề sở hữu chéo giữa ngân hàng và doanh nghiệp lại không phổ biến nhiều ở Anh hay Mỹ, do những quốc gia này có nền tài chính phát triển định hướng theo thị trường từ lâu đời (huy động vốn dựa vào thị trường – market-based).
Theo Onetti và Pisoni (2009), sở hữu chéo là việc các công ty thuộc lĩnh vực công nghiệp và tài chính, nắm giữ lâu dài cổ phần của nhau. Scher (2001) nghiên cứu vấn đề sở hữu chéo ở Nhật Bản đã định nghĩa sở hữu chéo là việc hai hay nhiều công ty nắm giữ cổ phần của nhau. Cũng nghiên cứu về sở hữu chéo tại doanh nghiệp, Trịnh Thanh Huyền (2012) định nghĩa rằng sở hữu chéo đơn giản là việc hai tổ chức sở hữu cổ phần lẫn nhau, chẳng hạn như công ty A đầu tư vào công ty B, sau đó B lại đầu tư vào A. Đây là hình thức sở hữu chéo trực tiếp giữa các doanh nghiệp.
Ngoài ra, sở hữu chéo có thể tồn tại một cách gián tiếp, chẳng hạn như một nhà đầu tư (hoặc một nhóm nhà đầu tư) sở hữu cả doanh nghiệp C và doanh nghiệp D thì thực chất doanh nghiệp C và doanh nghiệp D là sở hữu chéo của nhau. Việc sở hữu cổ phần chéo giữa các công ty liên kết chúng và một mạng lưới rất phức tạp, làm giảm đi sự minh bạch của thị trường, cũng như gây khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm soát hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế. Sở hữu chéo trong hệ thống NHTM Việt Nam cũng đã có từ khá lâu. Thời gian đầu chủ yếu do các ngân hàng quốc doanh góp vốn với tư cách cổ đông Nhà nước nhằm mục đích giúp Nhà nước kiểm soát hoạt động của các ngân hàng cổ phần.
Sự hiện diện của những ngân hàng quốc doanh nhằm mục đích hạn chế những hoạt động vượt ra ngoài khuôn khổ pháp lý nếu có, cũng như giúp các ngân hàng cổ phần vượt qua những yếu kém ban đầu khi mới được thành lập. Đồng thời, xét từ góc độ nghiệp vụ, các ngân hàng quốc doanh lớn đã chia sẻ kinh nghiệm kinh doanh, quản trị thậm chí chia sẻ cả nguồn download by : skknchat@gmail.com 5 nhân lực với tất cả các ngân hàng họ góp vốn. Tuy nhiên, cùng với thời gian và sự phát triển nhanh chóng của hệ thống ngân hàng Việt Nam, ảnh hưởng của các hình thức sở hữu chéo cũng có nhiều biến đổi. Trong thời gian ngắn trở lại đây (2004 – 2011), sở hữu chéo là một vấn đề đang được quan tâm rất nhiều do sự phức tạp ngày càng gia tăng cũng như những ảnh hưởng tiêu cực của nó đối với ngành ngân hàng nước ta.
Sở hữu chéo là một mối quan hệ phức tạp trong các hình thức khác nhau. Một cách đơn giản nhất thì sở hữu chéo đề cập đến việc một công ty A nắm giữ cổ phần trong một công ty B và ngược lại, công ty B cũng có cổ phần trong công ty A (Sơ đồ 2. Nói cách khác, sở hữu chéo là một hiện tượng trong đó các công ty nắm giữ cổ phần trong một hay một số công ty khác.1: Sở hữu chéo giản đơn A B Nguồn: Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (2013) Trong hình thức đơn giản nhất, hình thức sở hữu chéo chỉ có hai công ty. Tuy nhiên, có những hình thức sở hữu chéo phức tạp hơn.
Một trong số đó là sở hữu chéo tuần hoàn, trong đó công ty A sở hữu cổ phần trong công ty B, khi B sở hữu cổ phần trong C, và lần lượt, C sở hữu cổ phần trong A (Sơ đồ 2. Sở hữu tuần hoàn có thể mở rộng với các công ty trung gian hơn. Trong sở hữu tuần hoàn, rất khó để nhìn thấy nơi bắt đầu và kết thúc của mối quan hệ sở hữu. Trong trường hợp này, việc xác định số cổ phần thực tế trong các công ty khó khăn hơn nhiều.
Ví dụ, A không trực tiếp sở hữu C, nhưng B thuộc sở hữu của A và B trực tiếp sở hữu C, vì vậy A đương nhiên sở hữu C. Tuy nhiên, việc xác định tỷ lệ sở hữu thực tế (hoặc quyền biểu quyết) của A trong C đòi hỏi việc xác định thông qua B và số dư của các mối quan hệ sở hữu lẫn nhau giữa A và C. Trong ngắn hạn, khó có thể xác định số cổ phần thực tế trong các doanh nghiệp có sở hữu tuần hoàn.2: Sở hữu chéo tuần hoàn A B C Nguồn: Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (2013) download by : skknchat@gmail.com 6 Tuy nhiên, sở hữu tuần hoàn không phải là hình thức phức tạp nhất của sở hữu chéo. Có một hiện tượng trong đó các quan hệ sở hữu giữa các doanh nghiệp được xen kẽ với quyền sở hữu trực tiếp và gián tiếp như một ma trận, và nó được gọi là sở hữu chéo mạng lưới.
Như thể hiện trong Sơ đồ 2.3, không chỉ các cặp công ty A-B, B-C, C-D và A-D mà còn A-C và B-D được liên kết. Hơn nữa, đây chỉ là sở hữu trực tiếp, chưa tính đến những mối quan hệ sở hữu gián tiếp. Ví dụ, A đã không chỉ trực tiếp mà còn quan hệ sở hữu gián tiếp với C, vì A trực tiếp sở hữu D và D trực tiếp sở hữu C. Các quyền sở hữu mạng lưới là rất phức tạp, dẫn đến việc khó khăn, hoặc thậm chí không thể xác định quyền sở hữu thực sự chi phối của một công ty trong một số công ty khác trong bối cảnh không minh bạch và chưa được kiểm chứng thông tin.3: Sở hữu chéo dạng mạng lƣới A B D C Nguồn: Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (2013) 2.
Các lý thuyết giải thích tác động của sở hữu chéo đến hoạt động của NHTM 2. Lý thuyết ủy quyền – thừa hành Jensen và Meckling (1976) đã định nghĩa quan hệ người sở hữu – người điều hành là một hợp đồng theo đó một hay nhiều người (người sở hữu) thuê một người khác (người điều hành) thay mặt họ thực hiện một số dịch vụ và được phép đưa ra quyết định có liên quan. Để người điều hành thực hiện việc ủy quyền, người sở hữu phải trả công cho họ. Nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi ích, người sở hữu sẽ phải thiết kế các động cơ khuyến khích thích hợp và phải mất chi phí giám sát nhằm hạn chế hoạt động gây tổn hại lợi ích cho mình từ người điều hành.
Thêm vào đó, trong nhiều trường hợp, người điều hành sẽ chấp nhận tiêu tốn các nguồn lực khác hoặc chịu chi phí ràng buộc để đảm bảo với người sở hữu rằng mình sẽ không có những hành động gây tổn hại cho họ hoặc chấp nhận đền bù thiệt hại nếu mình thực hiện các hành động gây thiệt hại cho người sở hữu. Do trong hầu hết các mối quan hệ giữa người sở hữu người điều hành luôn phát download by : skknchat@gmail.com 7 sinh chi phí giám sát và chi phí ràng buộc, đồng thời luôn có sự khác biệt về lợi ích của các bên. Nguyễn Đức Mậu (2012) đã sử dụng lý thuyết ủy quyền – thừa hành này để giải thích tác động của sở hữu chéo đến việc tuân thủ quy định về bảo đảm an toàn hoạt động của NHTM. Vì ngân hàng cũng là một doanh nghiệp nên xung đột lợi ích nảy sinh giữa bên ủy quyền là chủ sở hữu và bên được ủy quyền là người quản trị điều hành luôn hiện hữu.
Bên cạnh đó, ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian, theo đó người gửi tiền ủy thác cho ngân hàng để đầu tư tiền của mình. Do vậy, mâu thuẫn giữa mối quan hệ sở hữu – điều hành có thể gây ra các tổn hại cho người gửi tiền. Trong hoạt động của NHTM, do việc người sở hữu – cổ đông không giám sát được các hoạt động của người điều hành (nhà quản lý ngân hàng), dẫn đến việc người quản lý ngân hàng có thể lựa chọn các dự án rủi ro để cho vay nhằm hưởng lợi ích cá nhân thay vì lựa chọn các dự án an toàn. Cổ đông lớn thậm chí có thể yêu cầu tổng giám đốc ngân hàng cho vay, đầu tư theo chỉ định hay dựa trên quan hệ của họ mà đúng ra các quyết định này phải dựa trên tính khả thi của dự án và năng lực tài chính quản trị của người vay vốn.
Cổ đông và nhiều người khác sẽ gánh chịu thiệt hại nếu các hành động rủi ro này gây ra tổn thất. Hoạt động chủ yếu của NHTM là đi vay để cho vay và nguồn vốn vay chủ yếu của ngân hàng chính là tiền gửi trong nền kinh tế. Lượng tiền huy động từ dân cư và tổ chức của NHTM luôn lớn gấp nhiều lần vốn điều lệ của ngân hàng. Do đó, khi có rủi ro xảy ra thì người gửi tiền luôn phải chịu tổn thất.4 mô tả mối quan hệ ba chiều giữa cổ đông, người quản lý và chủ nợ – người gửi tiền trong hoạt động của NHTM.4: Tam giác quan hệ ủy quyền – thừa hành Người quản lý Cổ đông Chủ nợ/Người gửi tiền Nguồn: Nguyễn Đức Mậu (2012) NHTMNN do nhân dân sở hữu, từ đó nảy sinh hai xung đột.
Thứ nhất, Chính phủ đại diện cho người dân sở hữu ngân hàng nhưng có khi Chính phủ không hành download by : skknchat@gmail.com 8 động vì lợi ích của người dân. Thứ hai, hội đồng quản trị và ban điều hành, những người được Chính phủ ủy quyền, không phải luôn hành động vì lợi ích của Chính phủ. Đối với các NHTMCP, mối quan hệ ủy quyền nảy sinh hai vấn đề khác.