Mở đầu ~_ Chương Ï: Tổng quan tài liệu -_. Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận -_ Kết luận và kiến nghị CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Một số khái niệm về quản lý lửa rừng Cháy rừng làsự kiện lửa phát sinh trong một khurừng, chấy rừngcó thể là đám cháy được kiểm soát trong kỹ thuật lâm sinh hoặc đám cháy không thể kiểm soát. Hiện nay có nhiều khái niệm về cháy rừng như theo Phạm Ngọc Hưng “Cháy rừng là những đám cháy được phát sinh và lan tràn, tiêu diệt sinh vật trong rừng” [15].O thi "Cháy rừng là những đám cháy xuất hiện và lan tràn ở trong rừng mà không có sự kiểm soát của con người, gây nên những tổn thất nhiều mặt về tài nguyên, của cải và môi trường. [38], [39] Phòng cháy rừng: bao gồm mọi hoạt động được tiến hành khi cháy rừng chưa xảy ra, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất khả năng phát sinh của đám cháy hoặc nếu.
cháy xảy ra cũng hạn chế sự lan tran và thiệt hại do đám cháy gây nên [6], [8]. Đường băng cản lửa là một trong những biện pháp phòng cháy rừng cần thiết cho. các khu trồng rừng hay ở các khu rừng tự nhiên cần phải tiến hành phân chia rừng. thành những lô, khoảnh riêng biệt bởi những đường băng cản lửa: đường băng đó có thé là đường băng trắng hoặc đường băng xanh có tác dụng ngăn được ngọn lửa cháy.
lan mặt đất, cháy lướt trên ngọn cây rừng [2], + Đường băng trắng: là những giải đắt trống đã được chặt trắng thu dọn hết cây cỏ, thảm mục và được cuốc hay cày lật đất nhằm ngăn lửa cháy lan trên mặt đất rừng [4]. + Đường băng xanh: là những đường băng được trồng cây xanh hỗn giao, có kết cấu nhiều ting, chon những loài cây có khả năng chịu lửa tốt, lá xanh và không rụng lá về mùa khô. Đường băng xanh có tác dụng ngăn 2 loại cháy: cháy lan mặt đắt và cháy lướt trên tán cây rừng [2].2 Nghiên cứu về phòng chống cháy rừng (PCCR) trên thế giới Nghiên cứu về PCCR trên thế giới được bắt đầu vào thé ky XX, thoi ky dau chit yếu tập trung ở các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nga, Đức, Thụy Điền, Canada, Pháp, Úc v. Sau đó là ở hầu hết các nước có hoạt động lâm nghiệp.
Các quả nghiên cứu đã khẳng định rằng cháy rừng là hiện tượng ôxy hoá các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao thích hợp đối với từng loại vật liệu cháy. Nó xảy ra khi có mặt đồng thời của ba thành tố còn gọi là tam giác lửa: nguồn lửa, ôxy và vật liệu cháy. Tuỳ thuộc vào đặc điểm của ba yếu tố trên mà cháy rừng có thê được hình thành, phát triển, ngăn chặn hoặc suy yếu đi. Vì vậy về bản chất, những biện pháp PCCR đều nhằm tác động vào một trong ba yếu tố trên theo chiều hướng.
ngăn chặn và giảm thiểu quá trình chay [24],[25],{26],[27] 4 Mối liên hệ chặt giữa điều kiện thời tiết, mà quan trọng nhất là lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm không khí với độ âm vật liệu cháy và khả năng xuất hiện cháy rừng. Vi vậy, hầu hết các phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng đều tính đến đặc điểm diễn biến hàng ngày của lượng mưa, nhiệt độ và độ âm không khí [25],[26]. Các kết quả nghiên cứu PCCR trên thế giới đã khẳng định hiệu quả của các loại băng cản lửa, các vành đai cây xanh và hệ thống kênh mương ngăn cản cháy rừng. 134] Từ những năm 80 ở Trung Quốc đã lựa chọn được hàng trăm loài cây có khả năng phòng cháy.
Những loài được trồng phổ hon cả là: Vối thuốc, Giỗi, San hô, Co, Trinh nit, Keo, Sau sau Lào, Dẻ đá.Một số loài cây ăn quả và cây công nghiệp như: Quýt, Mơ, Sở, Chè, Thanh mai. cũng được lựa chọn là những cây có khả năng. chống, chịu lửa và đã được sử dụng trồng trên băng xanh cản lửa [40]. Các nghiên cứu tập đoàn cây trồng trên băng xanh cản lửa và trồng rừng hỗn giao đề làm giảm nguy cơ cháy rừng.3 Nghiên cứu về nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến cây trồng trên thế giới Trồng rừng là một trong những công trình quan trọng trong công tác cải thiện và bảo vệ môi trường, do đó.
đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu từ rất sớm, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu sau đây: Nghiên cứu về khí hậu: Khi nghiên cứu hai loài thông 4öies lasiocarpa va Pseudotsuga menziesli, Fritt và Mayer (1980) đã nhận thấy rằng tăng trưởng vòng năm của chúng có mối liên hệ với nhiệt độ và lượng mưa. Đối với loai Pseudotsuga menziesli, tăng trưởng đường kính có mối quan hệ tuyến tính dương với lượng mưa từ tháng 7 năm trước đến tháng 2 năm sau. Ngược lại, chỉ số tăng trưởng đường kính của loài 4bies lasiocarpa có quan hệ tuyến tính dương với lượng mưa của các tháng 11, 12 năm trước và tháng 2, 3 và 6 năm sau. Rõ ràng lượng mưa lớn giúp cho loài Abies lasiocarpa ting truéng trong mét thời gian dài từ tháng 11 đến tháng 2.
Nghiên cứu của Fritt và Mayer cũng cho thấy chỉ số tăng trưởng của cả hai loài trên đều có. tương quan dương với nhiệt độ tháng § (tháng cuối mùa tăng trưởng) [31] Nghiên cứu về lập địa: Tập hợp kết quả nghiên cứu ở các nước vùng nhiệt đới, tổ chức Nông lương Quốc tế (FAO, 1984) đã chỉ ra rằng khả năng sinh trưởng của rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất rõ vào bốn. nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: khí hậu, địa hình, loại đắt, hiện trạng thực bì. Điển hình là các công trình nghiên cứu của Julian Evans (1974 và 1992), P Golcalves J.M và cộng sự (2004) [29].
Khi nghiên cứu đặc đất ở Châu Phi, Laurie, Julian Evans (1974), cho rằng đất đai ở vùng nhiệt đới rất khác nhau về độ dày, tầng đất, cấu trúc vật lý đất, hàm lượng các chất dinh dưỡng. khoáng, phản ứng của đất (độ pH) và nồng độ muối. Vì thế, khả năng sinh trưởng. của rừng trồng trên các loại đất ấy cũng khác nhau.
Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông P. patula & Swaziland, Evans.J (1974) da chimg minh kha năng sinh trưởng về chiều cao của loài cây này có quan hệ khá chặt (R=0.81) các yếu tố địa hình và đất đai [28]. Khi nghiên cứu về sản lượng rừng trồng Bạch đàn ở Brazil, Golcalves J.M và cộng sự (2004), cho rằng năng suất rừng trồng là sự “kết hôn” thích hợp giữa kiểu gen với điều kiện lập địa và kỹ thuật canh tác. Ngoài ra, tác giả còn chỉ cho thấy giới hạn của sản lượng rừng có liên quan đến các y( trường theo thứ tự mức độ quan trọng sau đây: nước > dinh dưỡng > độ sâu tâng dat [33].
Thông qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy việc xác định điệu kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết, đó là một trong những yếu tố quan trọng quyết định năng suất và chất lượng rừng. Nghiên cứu về giống: Được xem là vấn đề quan trọng bậc nhất để nâng cao năng. suất rừng trồng nên nhiều nước trên thế giới đã đi trước chúng ta nhiều năm về vấn đè cải thiện giống cây rừng và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Bằng con đường.
chon loc nhin tao, Brazil di chon duge giéng Eucalyptus grandis dat tới 55m /ha/năm. sau 7 năm trồng, ở Swaziland cũng đã chọn được giống Pinus patala sau 15 năm tuôi đạt 19m`/ha/năm [36], Nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ: Mật độ trồng rừng là một trong những. biện pháp kỹ thuật lâm sinh ảnh hưởng rõ đến năng suất rừng trồng. Vấn đề này đã có rất nhiều công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình như công trình nghiên cứu của Evans, J (1992) tác giả đã bó trí 4 công thức mật độ trông khác nhau (2985; 1680; 1075 và 750 cây/ha) cho Bach đàn E.
deglupta 6 Papua New Guinea, số liệu thu được sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng tổng. tiết diện ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của mật độ, có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng của rừng. vẫn nhỏ hơn những công thức trồng rừng mật độ cao [29].Tại Malaysia năm 1995 người ta tiền hành xây dựng rừng hỗn loài nhiều tầng trên 3 đối tượng: rừng tự nhiên, rừng keo tai tượng và rừng Tếch với 23 loài bản địa có giá trị, trồng theo băng có. chiều rộng khác nhau (10m, 20m, 30m, 40m) và phương thức hỗn giao khác nhau.
Kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng chiều cao tốt ở băng 10m và 40m. Nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng và năng suất cây trồng: 'Bón phân cho cây rừng là biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất chat lượng rừng trồng đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm, điển hình như công trình nghiên cứu của Mello (1976) [35]. G Barazil cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh truéng khá tốt ở công thức không bón phân, nếu bón NPK thì năng suất rừng trồng có thê tăng lên trên 50%. Trong một công trình nghiên cứu khác ở South Afirica của Schonau (1985) về vấn đề phân bón cho cây bạch đàn Eucalyptus 6 grandis đã cho thấy công thức bón 150g NPK/gốc với tỷ lệ N :P ;K = 3 z2 :1 có thể nâng chiều cao trung bình của rừng trồng lên gắp 2 lần sau năm thứ nhất [29].
Đối với Thông P. Caribeae, Bolstad và cộng sự (1988) cũng đã tìm thấy một vài loại phân có. phan img tích cực mang lại hiệu quả rõ rệt cho. rừng trồng như Potassium, Phosphate, Boron và Magnesium [37] 1.4 Nghiên cứu về phòng chống cháy rừng (PCCR) ở Việt Nam Ở Việt Nam, những nghiên cứu về dự báo cháy rừng ra đời tương đối muộn, mới chỉ bắt đầu từ năm 1981.
Điển hình các công trình về PCCR được các tác giả nghiên cứu sau đây: Nghiên cứu về cây phòng cháy: Theo nghiên cứu của Bế Minh Châu (1999) những loài cây có khả năng phòng cháy được tác giả đề xuất gồm: Keo lá tràm, thuốc, Tống quá sủ, Dứa bà. Việc đề xuất này mới chỉ dựa chủ yếu vào đặc điểm. hình thái và khả năng tái sinh một cách định tính. Bế Minh Châu (2009) đã nghiên cứu lựa chọn các loài cây phòng cháy rừng hiệu quả cho các tỉnh phía Bắc Việt Nam [9].