phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn được cấu trúc thành ba chương Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến việc rèn luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 Chƣơng 2: Tổ chức rèn kĩ năng lập luận trong đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP LUẬN TRONG ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC 1.1 Lý thuyết giao tiếp với vấn đề dạy văn bản nghị luận và kỹ năng lập luận 1.1 Lý thuyết giao tiếp Theo lý thuyết Tâm lí học hiện đại, giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người. Thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác, nhận thức và điều chỉnh lẫn nhau. Nói cách khác, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người- người trong xã hội Có thể nói ngôn ngữ và tư duy là hai nhân tố quan trọng để thực hiện quá trình giao tiếp và hai nhân tố này có quan hệ mật thiết với nhau cùng hỗ trợ cho nhau để thực hiện giao tiếp. Đây cũng là yếu tố quan trọng để phân biệt con người với loài vật, vì giao tiếp của loài vật là do bản năng chứ không phải là hoạt động có ý thức như con người.
Giao tiếp là phương thức tồn tại và phát triển của xã hội. Xã hội là một tập thể có quan hệ với nhau về nhiều mặt: quan hệ họ hàng, quan hệ đồng nghiệp, quan hệ thầy trò… Các mối quan hệ này là lí do để con người có quan hệ giao tiếp với nhau. Giao tiếp trái lại để giữ vững mối quan hệ đó. Con người không giao tiếp với nhau thì không thể có xã hội.
Xã hội là môi trường để con người có thể thực hiện quá trình giao tiếp. Đây là điều kiện để người giao tiếp điều chỉnh nội dung giao tiếp cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Lý thuyết giao tiếp nhìn từ góc độ ngôn ngữ học “Trong giao tiếp hàng ngày, giao tiếp nói cũng như giao tiếp viết, chúng ta có thể tạo ra những sản phẩm ngôn ngữ với dung lượng lớn nhỏ hay kích thước ngắn dài tùy ý nhưng không thể nhỏ hơn một câu. Lời nói (được hiểu theo nghĩa rộng cả dạng nói và dạng viết) của chúng ta ít khi là một câu.
Thường đó là một chuỗi câu, một văn bản. Vì vậy có thể nói rằng văn bản là đơn vị giao tiếp cơ bản nhất của ngôn ngữ” [3, tr. 193] Hoạt động giao tiếp này được thực hiện thông qua văn bản. Văn bản ở đây là một chuỗi ngôn ngữ được sắp xếp một cách hoàn chỉnh theo các quy tắc ngữ pháp 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com để truyền đạt một nội dung nào đó trong quá trình giao tiếp.
Vì nội dung giao tiếp là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong ý thức của người nói cho nên nó thuộc lĩnh vực tinh thần. Để người nghe có thể nắm bắt được nội dung thuộc lĩnh vực tinh thần đó thì người nói phải chuyển nội dung ấy sang hệ thống vật chất, hệ thống vật chất ấy chính là ngôn ngữ. Quá trình giao tiếp lại được tiếp tục bằng việc lĩnh hội các yếu tố ngôn ngữ do người nói phát ra, để hiểu được nội dung mà người nói truyền đạt thì người nghe phải lí giải lý giải các yếu tố ngôn ngữ này. Kết thúc quá trình này cũng là kết thúc quá trình giao tiếp.
Văn bản trong hoạt động giao tiếp được tồn tại ở hai dạng nói và dạng viết. Văn bản nói là các yếu tố ngôn ngữ được sắp xếp thành một chuỗi tạo nên lời nói trong giao tiếp. Văn bản viết là văn bản hành chính, các bài văn chính luận, các văn bản nghị luận văn học… Theo quan điểm hệ thống cấu trúc, các phương tiện ngôn ngữ là những yếu tố có sẵn, đứng yên, khép kín. Nhưng theo quan điểm giao tiếp thì các phương tiện đó trong hoạt động hành chức của mình luôn luôn là những yếu tố có sự biến động.
Chúng có thể phát sinh đặc tính mới, tăng cường thêm giá trị mà nó vốn có trong hệ thống. Do vậy, theo quan điểm giao tiếp, người nghe, người đọc chính là những người mang nghĩa cuối cùng của văn bản chứ không phải bản thân văn bản. “Một văn bản mã hóa đúng quy tắc về ngữ pháp, ngữ nghĩa là điều kiện cần thiết để đạt đến mục đích chứ không phải bản thân mục đích” [35, tr. Việc tiếp tục lí giải văn bản trong ý thức người tiếp nhận và cách thể hiện thái độ, hành vi cụ thể của họ đối với những vấn đề mà nội dung văn bản đề xuất mới nói lên sự thành công hay thất bại của mục đích giao tiếp.
Đây là điều mà người viết văn bản, đặc biệt là văn bản nghị luận cần hết sức lưu ý. Dạy Làm văn là dạy học sinh giao tiếp bằng văn bản có hiệu quả nhất. Đặc biệt đối với Làm văn nghị luận, học sinh cần biết đến kỹ thuật sử dụng ngôn ngữ, trong đó có yếu tố lập luận. Dạy Làm văn nghị luận, kỹ năng lập luận theo quan điểm giao tiếp Từ những luận điểm cơ bản trên đây của lý thuyết giao tiếp nhìn từ góc độ tâm lý học và ngôn ngữ học, chúng ta thấy rằng, quan điểm giao tiếp là quan điểm sư phạm tích cực nhất hiện nay trên lĩnh vực dạy tiếng.
Với quan điểm này, mục đích cao nhất của dạy tiếng là phát triển năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ cho học sinh. Quan điểm đó đã chi phối sâu sắc đến việc dạy từ, dạy câu, dạy văn bản. Nó 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com càng đúng hơn khi đặt ra với môn Làm văn, vì Làm văn là cách dạy cho học sinh cách tự tạo ra văn bản để giao tiếp. Theo lý thuyết giao tiếp, văn bản là đơn vị giao tiếp cơ bản nhất của ngôn ngữ, vì vậy viết một đoạn văn, bài văn thường không mang mục đích tự thân mà bao giờ cũng hướng tới một mục đích giao tiếp nhất định.
Cái mà giao tiếp hướng tới rất ít khi chỉ thuần túy thông tin, trái lại luôn nhằm tác động tới người nhận để đạt một mục đích nào đó về nhận thức, tình cảm, hành động. Làm văn nghị luận trong nhà trường là một hoạt động giao tiếp, vì thế Làm văn nghị luận cũng luôn luôn cần hướng tới những đối tượng nhất định. Đối tượng này càng cụ thể bao nhiêu thì việc tổ chức bài viết, việc tiến hành nghị luận càng chặt chẽ, càng có sức thuyết phục bấy nhiêu.Vì vậy rèn luyện kỹ năng lập luận trong đoạn văn nghị luận không thể không chú ý tới mục đích tác động thuyết phục của nó 1.2 Năng lực tư duy của học sinh THPT với vấn đề lập luận trong văn nghị luận 1. Năng lực tư duy, tư duy lôgic với vấn đề lập luận trong văn nghị luận Theo X.V Đavưđôp, nghiên cứu về tư duy đã phân biệt hai loại tư duy chủ yếu là tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận; đồng thời các tác giả đã vạch ra các đặc điểm chủ yếu của hai loại tư duy nói trên.
Dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt hai loại tư duy kinh nghiệm và tư duy lí luận là những khả năng khái quát hóa. Theo Rubinstein, “Tư duy có liên hệ bên trong với các thao tác khái quát hóa và đẫn đến những khái quát ở trình độ cao hơn. Vì vậy, những trình độ tư duy khác nhau được xác định bởi các kiểu khái quát hóa kinh nghiệm, khái quát hóa lí luận, khái quát hóa diễn dịch. Đặc biệt tác giả đi sâu vào khái quát hóa lý luận và coi đó là cơ sở các trình độ khác nhau của tư duy [37, tr.
Nhóm tác giả Phạm Minh Hạc (chủ biên), Phạm Hoàng Gia, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn với công trình Tâm lý học đại cương, phân loại tư duy theo nhiều phương diện khác nhau: căn cứ theo lịch sử hình thành và phát triển, tư duy được chia làm 3 loại (tư duy thực hành, tư duy hình ảnh cụ thể, tư duy lý luận); còn xét theo mức độ sáng tạo của tư duy có thể chia làm hai loại tư duy angôrit và tư duy ơritxtic. Tư duy là một quá trình tâm lý tìm kiếm và phát hiện cái mới trên cơ sở phân tích và tổng hợp, khái quát hiện thực nảy sinh từ hoạt động thực tiễn. Chỉ có tư duy 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mới giúp con người phản ánh được bản chất của sự vật, hiện tượng. Tư duy có phản ánh đúng hiện thực hay không còn tùy thuộc vào các điều kiện và phương pháp tư duy.
Do vậy, phát triển tư duy chính là việc rèn luyện về những phương pháp suy nghĩ đúng đắn. Giáo sư triết học Lipman (Đại học Columbia) cho rằng: “ Cần dạy trẻ em cách tư duy ngay từ khi chúng bắt đầu đến trường học. Học sinh cần rèn luyện các kĩ năng tư duy để có thể giải quyết các vấn đề trong cuộc sống”. Trong hoạt động tư duy, con người thường dựa trên một phương thức tư duy chính, các tư duy khác là phụ.
Ví dụ, nhà tiểu thuyết, nhà thơ, họa sĩ khi sáng tác, chủ yếu dựa vào tư duy hình tượng, nhưng cũng có phần tham dự cửa tư duy lôgic và tư duy linh cảm, như vậy mới có lợi cho việc sáng tạo nghệ thuật. Cũng vậy, nhà triết học, nhà chính luận, nhà phê bình văn nghệ khi viết bài, chủ yếu sử dụng tư duy lôgic, nhưng đồng thời cũng cần có sự trợ giúp của tư duy hình tượng và tư duy linh cảm, như vậy mới có ích cho sự sáng tạo lý luận của họ. Trong ba hình thức tư duy loài người phổ biến, nghị luận chủ yếu sử dụng tư duy lôgic, Ăngghen từng nói lôgic là “học thuyết quy luật bản thân quá trình tư duy”. Theo đó, cấu trúc lôgic của bài văn nghị luận chính là cấu trúc được hình thành từ nó được vận dụng tư duy lôgic, cũng chính là cấu trúc biện luận của nó.
Tóm lại, văn nghị luận là loại văn lấy tư duy lôgic làm chính để xuyên suốt quá trình tư duy. Từ việc hiểu được cơ chế của tư duy lôgic trong văn nghị luận, giáo viên cần hình thành cho học sinh năng lực lĩnh hội và sản sinh văn bản nghị luận. Phát triển tư duy cho học sinh trong dạy học là yêu cầu chung của mục tiêu giáo dục, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức.