Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH 1. Những vấn đề lý luận chung về quyền xác định lại giới tính 1. Khái niệm về việc xác định lại giới tính Theo quy định của pháp luật dân sự, thì giới tính, là một quyền nhân thân của mỗi người và không thể chuyển giao cho người khác. Điều 36 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định cá nhân có quyền xác định lại giới tính [19, tr.
22] Như vậy có thể rút ra khái niệm rằng: “xác định lại giới tính là những thủ tục dùng để điều chỉnh lại giới tính của một người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác”. Thuật ngữ xác định lại giới tính được dùng với mục đích khác với thuật ngữ chuyển đổi giới tính thường được áp dụng cho người có cơ thể hoàn toàn bình thường. Có một số thuật ngữ dễ nhầm lẫn với xác định giới tính, đó là việc chuyển đổi giới tính. Chuyển đổi giới tính là chuyển từ giới tính nam sang giới tính nữ hoặc ngược lại.
Người chuyển đổi giới tính là người đã hoàn chỉnh giới tính nam, nữ. Xác định lại giới tính và chuyển đổi giới tính là 2 thuật ngữ khác nhau. Bản chất con người lúc nào cũng mang trong người 2 loại giới tính nam và nữ, trong điều kiện và hoàn cảnh nhất định thì giới tính nào biểu hiện tính trạng trội thì người đó được xem là mang giới tính ấy (khi sinh ra). Nói về khoa học thì giải thích khá dài dòng yêu cầu người nghe phải có một trình độ kiến thức về y học hoặc sinh học nhất định mới dễ hiểu.
Co thể nhìn nhân một cách ngắn gọn sau: 1./ Đổi giới tính là người mang giới tính nam sẽ chuyển đổi sang nữ và ngược lại (can thiệp bằng phẫu thuật)./ Xác định lại giới tính là người này tuy mang thân hình là nam nhưng bản chất giới tính là nữ (phải trải qua một số xét nghiệm, giám định). Và kết luận rằng người này đang mang tính trạng trội của giới tính nữ (mặc dù thân hình là nam). Trường hợp gần đây nhất, trên thế giới lại xuất hiện hiện tượng một người mang 2 tính trạng trội của giới tính là ngang nhau (tương đối) y học vẫn đang nghiên cứu. Căn cứ để xác định lại giới tính Theo quy định tại điều 36 Bộ Luật dân sự Việt Nam năm 2005 thì: “Khuyết tật bẩm sinh về giới tính là những bất thường ở bộ phận sinh dục của một người ngay từ khi mới sinh ra, biểu hiện ở một trong các dạng như nữ lưỡng giới giả nam, nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật còn Giới tính chưa được định hình chính xác là những trường hợp chưa thể phân biệt được một người là nam hay nữ xét cả về bộ phận sinh dục và nhiễm sắc thể giới tính ”[19].
Từ đó, có thể nói, Điều 36 Bộ luật Dân sự đã một mặt bảo vệ quyền nhân thân con người khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định pháp luật, mặt khác nó điều chỉnh tình trạng chuyển đổi giới tính một cách tuỳ tiện thực tế đang diễn ra và có chiều hướng gia tăng ở nước ta. Như vậy nhìn từ góc độ pháp lý, có thể thấy đây là một quyền nhân thân có điều kiện. Thể hiện ở chỗ, một người chỉ được quyền yêu cầu xác định lại giới tính của mình khi họ có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Khi và chỉ khi đáp ứng được một trong hai điều kiện trên họ mới có quyền yêu cầu y học xác định lại giới tính chính xác.
Tuy nhiên, cũng từ góc độ pháp lý, có thể thấy đây là một quyền nhân thân có điều kiện mà không thể chuyển giao cho người khác. Thể hiện ở chỗ, 8 một người chỉ được quyền yêu cầu xác định lại giới tính của mình khi họ có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Khi và chỉ khi đáp ứng được một trong hai điều kiện trên họ mới có quyền yêu cầu y học xác định lại giới tính chính xác. Như vậy, nhìn nhận theo góc độ quy định của luật, có thể thấy “chuyển đổi giới tính” và “xác định lại giới tính” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.
Bản thân cụm từ “xác định lại giới tính” nhằm trả lại giới tính thực cho những người bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác đã nói lên rất rõ ràng và là yếu tố để phân biệt với khái niệm “chuyển đổi giới tính” được thực hiện theo ý thích của con người, trái với quy luật của tạo hoá. Và các hoạt động y khoa để xác định lại giới tính cũng sẽ được gọi chung là “can thiệp y tế”, chứ không phải bất cứ khái niệm gì khác. Song song với việc ghi nhận quyền được xác định lại giới tính, Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng bảo đảm cho người đã được xác định lại giới tính quyền được thay đổi họ tên để phù hợp với hoàn cảnh thực tại [Mục e Khoản 1 Điều 27 tr. 18] Như vậy theo quy định của pháp luật Việt Nam thì chỉ có hai căn cứ để xác định lại giới tinh đó là: Những trường hợp bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác còn các đối tượng khác thí không được luật cho phép và bảo vệ.
Đối với trường hợp xác định lại giới tính cho người Mất NLHV dân sự thì: Theo quy định tại khoản 1 Điều 38 NĐ 158/2005 quy định: cho phép người mất NLHV dân sự được xác định lại giới tính theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người giám hộ. Vậy, trường hợp sau khi được cha, mẹ, hoặc người giám hộ đồng ý và tiến hành phẫu thuật xác định lại giới tính cho người mất năng lực hành vi dân sự, nhưng sau đó Người mất mất năng lực hành vi dân sự không đồng tình 9 việc mình được phẫu thuật trước đó thì sẽ được giải quyết như thế nào đây thì pháp luật chưa có quy định rõ ràng hay vẫn còn bỏ ngõ. Tiêu chuẩn y tế xác định lại giới tính 1. Theo quy định tại Điều 5 nghị định 88/2008 ngày 5/8/2008 NĐ- CP thì Tiêu chuẩn y tế xác định khuyết tật bẩm sinh về giới tính bao gồm: 1.
Nam lưỡng giới giả nữ: a) Bộ phận sinh dục có dương vật nhỏ, có thể sờ thấy tinh hoàn hoặc không, siêu âm hoặc nội soi thấy tinh hoàn, không có tử cung và buồng trứng; b) Nhiễm sắc thể giới tính là XY hoặc gen biệt hóa tinh hoàn dương tính hoặc kết hợp cả hai trường hợp trên. Nữ lưỡng giới giả nam: a) Bộ phận sinh dục có âm vật phát triển như dương vật nhưng không sờ thấy tinh hoàn, siêu âm hoặc nội soi thấy có tử cung, buồng trứng, không thấy tinh hoàn; b) Nhiễm sắc thể giới tính là XX. Lưỡng giới thật: a) Bộ phận sinh dục không xác định được là nam hay nữ. Tuyến sinh dục có cả tổ chức tinh hoàn, buồng trứng; b) Nhiễm sắc thể giới tính có thể là một trong các dạng XX/XY; XXX/XY; XX/XXXY hoặc các dạng nhiễm sắc thể khác được xác định là lưỡng giới thật.
Thực chất Có 3 tiêu chuẩn y tế để xác định lại giới tính, gồm: Nam lưỡng giới giả nữ, nữ lưỡng giới giả nam và lưỡng giới thật. Trên cơ sở đề nghị của người đứng đơn, cơ sở y tế sẽ lựa chọn giới tính để có phương pháp điều trị thích hợp, bảo đảm nguyên tắc khi ở giới tính đó, người này có thể hòa nhập cuộc sống về tâm, sinh lý và xã hội một cách tốt nhất. 10 Sau khi đã xác định lại giới tính, người được can thiệp y tế sẽ được cơ sở khám chữa bệnh cấp giấy chứng nhận y tế và giấy này là căn cứ để đăng ký hộ tịch. Các trường hợp đã xác định lại giới tính ở nước ngoài hoặc đã thực hiện ở Việt Nam trước ngày Nghị định này có hiệu lực, nếu muốn đăng ký lại hộ tịch thì phải có giấy xác nhận đã xác định lại giới tính của cơ sở khám, chữa bệnh trước đó và đến các cơ sở khám, chữa bệnh để được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận y tế.
Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm giải quyết việc đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính Theo quy định tại Điều 9 nghị định 88/2008 ngày 5/8/2008 NĐ-CP thì: Việc khám lâm sàng để xác định đúng giới tính là rất quan trọng. Quá trình khám bao gồm việc quan sát hình dáng, phong thái trò chuyện để tìm hiểu tính cách, sở thích và kiểm tra bộ phận sinh dục của bệnh nhân. Khuyết tật giới tính bao gồm khuyết tật về gien và khuyết tật ở bộ phận sinh dục. Những khuyết tật về gien gây nên tình trạng lưỡng giới cho bệnh nhân, bao gồm lưỡng giới thật và lưỡng giới giả nam hay nữ.
Bệnh nhân lưỡng giới thật là những người có cả tổ chức buồng trứng và tinh hoàn ở trong cơ thể, bộ phận sinh dục của họ cũng “nửa nọ nửa kia”, hoặc thiên về nữ/nam nhiều hơn. Nam lưỡng giới giả là tuyến sinh dục của người bệnh chỉ có tổ chức tinh hoàn, còn nữ lưỡng giới giả là tuyến sinh dục của người bệnh chỉ có tổ chức buồng trứng cho dù bộ phận sinh dục ngoài của họ ở trạng thái bán nam bán nữ. Để phát hiện bệnh nhân lưỡng giới thật hay giả không hề đơn giản, bởi những người này tuy là nam/nữ nhưng lại có biểu hiện đối lập với giới thật của mình. Ví dụ: Một bệnh nhân nữ có bộ phận sinh dục ngoài biểu hiện như của một chàng trai bị dị tật lỗ tiểu lệch thấp.
Ở mức nặng hơn, âm vật nhìn 11 không khác gì dương vật. Tuy nhiên, trong cơ thể “chàng trai” ấy lại có hai buồng trứng, tử cung, tuyệt nhiên không có tổ chức tinh hoàn. Trong trường hợp này, các bác sĩ sẽ tiến hành chụp cắt lớp, nội soi ở bụng, soi hay chụp ống niệu dục ngược dòng để kiểm tra xem có âm đạo đổ vào niệu đạo không. Qua thăm khám hệ thống sẽ xác định rõ đúng giới của bệnh nhân.
Trong các dạng khuyết tật bộ phận sinh dục ở nam thì dị tật lỗ tiểu lệch thấp khá phổ biến. Lỗ tiểu, thay vì nằm ở đỉnh quy đầu dương vật lại nằm ở mặt dưới dương vật, bìu, tầng sinh môn khiến bệnh nhân. Những dị tật dạng này rất dễ nhận biết nhưng vì tâm lý e ngại nên có người để đến khi lấy vợ mới dám.