Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NHỮNG NGƯỜI BỊ TƯỚC TỰ DO 1. Khái niệm quyền của người bị tước tự do 1. Người bị tước tự do Tự do là một trong những vấn đề quan trọng của con người và đã được nghiên cứu, luận giải từ lâu, dưới nhiều góc độ triết học, chính trị, pháp lý, xã hội học… Thời kỳ khai sáng, rất nhiều học giả đã bàn luận về tự do. Thomas Hobbes cho rằng: “Tự do được hiểu là, theo định nghĩa chính xác của từ này, sự vắng mặt của những trở ngại bên ngoài; những trở ngại đó thường tước đi một phần sức mạnh của con người để làm điều ta muốn làm, nhưng không thể ngăn cản ta sử dụng sức mạnh còn lại của mình theo sự sai khiến của lý trí và sự suy xét của chính bản thân mình”.
Montesquieu thì khẳng định: “Tự do là quyền được làm tất cả những điều mà luật pháp cho phép” [20, tr. Qua hai khái niệm của hai học giả nói trên có thể thấy, khái niệm của Montesquieu mang tính pháp lý cao và tiếp cận gần với khái niệm tự do trong xã hội hiện đại ngày nay đồng thời cũng gần với tư tưởng về nhà nước pháp quyền. Còn khái niệm của Thomas Hobbes đã chỉ ra hai thành tố quan trọng của tự do, đó là tự do nhân thức và tư do hành động. Ngày nay, tự do có thể được hiểu là tình trạng một cá nhân có thể và có khả năng hành động theo ý chí, nguyện vọng của mình phù hợp với các quy phạm pháp lý và đạo đức trong một xã hội dân chủ mà không bị cản trở bởi bất cứ chủ thể hay yếu tố nào.
Tự do có thể được phân thành tự do chủ động và tự do thụ động. Tự do chủ động là tự do của cá nhân nhằm đạt được mục tiêu cụ thể nào đó (ví dụ như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp. Tự do thụ động là tự do của cá nhân khỏi bị các chủ thể khác xâm phạm đến (như tự do thân thể. Trong một số trường 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hợp, tự do bị hạn chế.
Ví dụ như quyền tự do đi lại có thể bị hạn chế trong hoàn cảnh dịch bệnh hay khủng bố… Tuy nhiên việc hạn chế quyền tự do trong những trường hợp này phải tuân theo những quy tắc nghiêm ngặt và tuyệt đối không được mang tính chất phân biệt, đối xử về chủng tộc, màu da, tôn giáo, giới tính, ngôn ngữ hoặc nguồn gốc xã hội. Tự do là một thuộc tính tự nhiên của con người. Đã là con người thì phải có tự do. Đó là quyền mà tạo hóa ban cho và không ai có thể chối cãi được, xuất phát từ chính nhân phẩm của mỗi con người.
Sống trong xã hội tất cả các quyền tự do của con người phải được bảo đảm, trong đó quan trọng nhất là bảo đảm bằng pháp luật. Các văn kiện quốc tế về nhân quyền đề cập đến cả hai khái niệm: các "quyền" và "tự do" cơ bản của con người. Tuy nhiên trong thực tế hầu như không có sự phân biệt và khác biệt trong việc vận dụng các tiêu chuẩn quốc tế về quyền và tự do cơ bản của con người, bởi lẽ các tự do cơ bản thường được diễn đạt như là các quyền (ví dụ "tự do ngôn luận" cũng thường được gọi là "quyền tự do ngôn luận"). Con người có rất nhiều quyền tự do.
Như quyền tự do đi lại, tự do cư trú; quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo; quyền tự do lập hội, hội họp hòa bình;. Tước tự do nghĩa là bất kỳ hình thức giam giữ hoặc cầm tù nào, hay đưa một người vào nơi giam giữ chung hoặc riêng, mà người đó không được tự ý rời bỏ nơi giam giữ, trừ khi có quyết định của cơ quan tư pháp, hành chính hoặc cơ quan công quyền khác. Khái niệm “tước tự do” theo luật nhân quyền quốc tế được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm không chỉ việc bỏ tù hay tạm giam, mà còn là những việc hạn chế một phần hay toàn bộ tự do của một người, dưới nhiều hình thức và tên gọi khác, cụ thể như: bắt, tạm giữ; quản chế; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào các trung tâm cải tạo, giáo dục… Tức là bên cạnh các trường hợp giam giữ theo thủ tục hình sự thì tước tự do còn bao gồm cả giam giữ theo thủ tục hành chính. Nhiều quốc gia trên thế giới có luật về bắt, giam giữ hành chính, song chủ yếu đề cập đến các tình huống: giam giữ những người nhập cư lậu để chờ giải quyết thủ tục liên quan, ví dụ như ở Australia có các trung tâm tạm giữ ngoài khơi 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho người nhập cư và tị nạn đến Australia bằng đường biển; hay là giam giữ những nghi can khủng bố (Luật yêu nước của Hoa Kỳ sau ngày 11/9/2001…); hoặc giam giữ trong những tình huống liên quan đến an ninh quốc gia (biểu tình, tình trạng khẩn cấp của quốc gia…).
Chỉ có số ít nước quy định về bắt, giam giữ hành chính với những đối tượng như trẻ em có hành vi trái pháp luật, người mại dâm, người nghiện ma túy, người có hành động nguy hại cho chính quyền… Cơ sở của việc tước tự do là khi một người có hành vi xâm hại tự do của người khác và xâm hại đến lợi ích cộng đồng. Hoặc người đó có nguy cơ ảnh hưởng đến cộng đồng, ví dụ trong tình trạng dịch bệnh… Việc tước tự do phải được điều chỉnh bằng nhiều quy phạm pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực hành chính và tư pháp hình sự. Các biện pháp tước tự do là cần thiết trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Tuy nhiên cần hết sức thận trọng, bởi lẽ những biện pháp này khi áp dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người.
Nhân loại văn minh toàn thế giới đã thừa nhận rằng tự do là một yếu tố nền tảng của nhân phẩm. Việc tước đoạt tự do trong nhiều trường hợp làm tổn hại nghiêm trọng đến nhân phẩm. Khi một người bị bắt, tạm giữ, tạm giam hay bị cầm tù đều có một tình trạng chung đó là bị hạn chế tự do thân thể, tự do đi lại, cư trú. trong một khoảng thời gian nhất định.
Vì thế, quyền và lợi ích hợp pháp của họ dễ bị ảnh hưởng, xâm phạm. Từ đó dẫn đến yêu cầu cần thiết phải bảo đảm quyền cho nhóm người này. Tước tự do phải theo thủ tục được pháp luật quy định và phù hợp với luật nhân quyền quốc tế. Tước tự do hợp pháp và chính đáng thông thường phải qua trình tự tư pháp và bởi tòa án, song trong một số trường hợp hạn chế, cơ quan hành pháp cũng có thể quyết định và thực hiện tước tự do một người, ví dụ: với những người tâm thần, trong hoàn cảnh khẩn cấp của quốc gia… Theo luật nhân quyền quốc tế, người bị tước tự do là một khái niệm rất rộng, bao gồm tù nhân, những người bị tạm giữ, tạm giam,, quản chế, cải tạo… tức là tất cả những người bị giới hạn, ở bất cứ mức độ và dưới bất cứ hình thức nào, các tự do chính trị, dân sự của mình so với những công dân bình thường.
Con người có rất nhiều tự do, ví dụ như tự do đi lại, tự do cư trú, tự do học 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tập, tự do tôn giáo, tự do việc làm… Khái niệm "người bị tước tự do" dùng để chỉ những người bị giới hạn một số quyền nhất định vì các lý do an ninh hay trật tự xã hội, chứ không phải tước bỏ toàn bộ các tự do của con người. Tù nhân bị tước quyền tự do đi lại, tự do cư trú, nhưng họ vẫn được hưởng các quyền tự do khác như tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Một người bị tạm giam, tạm giữ vẫn có quyền theo hay không theo tôn giáo nào. Các quyền đó phải được pháp luật tôn trọng và bảo đảm bằng việc quy định người có hành vi xâm hại tới các quyền đó thì bị xử lý về mặt hành chính hoặc hình sự tùy theo mức độ.
Tóm lại người bị tước tự do theo luật nhân quyền quốc tế được hiểu là tất cả những người bị giới hạn, ở bất cứ mức độ và dưới bất kỳ hình thức nào, các tự do chính trị, dân sự của mình so với những công dân bình thường. Quyền của người bị tước tự do Hiện chưa có một văn kiện nào đưa ra khái niệm quyền của người bị tước tự do. Tuy nhiên như đã phân tích, nhóm người bị tước tự do là một trong những chủ thể quan trọng của luật nhân quyền quốc tế. Họ được hưởng những quyền lợi chính đáng, phù hợp với địa vị của họ.
Quyền của người bị tước tự do có các đặc điểm: Thứ nhất: quyền của người bị tước tự do là quyền của người thuộc các nhóm người dễ bị tổn thương Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người, trong đó định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên Hợp Quốc thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người. Như vậy, quyền con người được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được thừa nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Các quyền con người có thể gây cản trở lẫn nhau, chúng bị giới hạn bởi các quyền và tự do của người khác hay bởi các yêu cầu về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ [21, tr. Bên cạnh các cá nhân, chủ thể của quyền con người còn là các nhóm xã hội 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhất định, trong đó có các nhóm dễ bị tổn thương, ví dụ như phụ nữ, trẻ em, những người bị tước tự do.
Quyền cá nhân được hiểu là "các quyền thuộc về mỗi cá nhân, bất kể họ có hay không là thành viên của bất kỳ một nhóm xã hội nào, và việc hưởng thụ các quyền này là tùy thuộc ý chí của mỗi cá nhân" [15, tr.