phần mở đầu và kết luận gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tài chính Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Phân tích thực trạng quản trị rủi ro tài chính tại Công ty Cổ phần may Sông Hồng Chƣơng 4.
Giải pháp và kiến nghị về quản trị rủi ro tài chính tại Công ty Cổ phần may Sông Hồng 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản trị rủi ro tài chính Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là những diễn biến phức tạp khôn lƣờng của môi trƣờng kinh doanh. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam phải thƣờng xuyên đối diện với rủi ro tài chính ngày càng đa dạng về loại hình, tinh vi về mức độ.
Rủi ro tài chính xảy ra đồng nghĩa với tổn thất hoặc mục tiêu tài chính của doanh nghiệp bị ảnh hƣởng. Bởi vậy, quản trị rủi ro tài chính luôn đƣợc coi trọng, là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp Việt Nam. Mặc dù vậy, quản trị rủi ro tài chính của các doanh nghiệp vẫn chƣa đƣợc nhƣ mong đợi. Hệ lụy khó tránh khỏi là những tổn thất về kinh tế - xã hội, những sai lệch so với dự tính của doanh nghiệp.
Vì mục tiêu bền vững trong phát triển, tối đa hóa giá trị tài sản của các chủ sở hữu, việc quản trị rủi ro tài chính theo hƣớng toàn diện hơn, chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn làđòi hỏi vô cùng cấp bách đối với các doanh nghiệp Việt Nam. (Trịnh Thị Phan Lan – Tạp chí Khoa học ĐHQG, 2016) Trên thế giới quản trị rủi ro tài chính là vấn đề rất đƣợc quan tâm của các doanh nghiệp, có rất nhiều tài liệu viết chi tiết về vấn đề này. Tuy nhiên, ở Việt Nam các doanh nghiệp chƣa thực sự chú trọng đến vấn đề quản trị rủi ro tài chính một cách nghiêm túc do vậy hiện nay chƣa thực sự có nhiều tài liệu nghiên cứu chuyên sâu viết về đề tài này. Bên cạnh những cuốn sách viết về quản trị rủi ro tài chính trong nƣớc của các tác giả nhƣ: Quản trị rủi ro tài chính của Nguyễn Minh Kiều, Quản trị tài chính của Nguyễn Thị Cành, Quản trị rủi ro tài chính của Nguyễn Thị Ngọc Trang…còn có những công trình nghiên cứu, tạp chí khoa học, luận án và luận văn của các tác giả quan tâm đến đề tài quản trị rủi ro tài chính.
Hầu hết các tác giả đều nhận định vấn đề quản trị rủi ro tài chính ở Việt Nam vẫn mang tính chất hình thức, chƣa thực sự đánh giá và phân tích bản chất vấn đề rủi ro tài chính tại mỗi doanh nghiệp. 4 Theo tác giả của một bài báo trên Vietstock.vn: “Nhấn mạnh vấn đề quản trị rủi ro tài chính trong các DN Việt Nam, TS. Phạm Tuấn Anh (Đại học Thƣơng mại) chỉ ra rằng, các DN Việt Nam hiện đang phải đối mặt với rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái và rủi ro tín dụng… Năm 2016, có 105 DN niêm yết tại Việt Nam, trong đó có 81% DN thƣờng xuyên nhận diện các rủi ro tài chính, 22% DN sử dụng dịch vụ của tƣ vấn để nhận diện rủi ro, đồng thời phần lớn DN nhận diện rủi ro thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính căn bản. Tuy nhiên, chuyên gia này cho rằng, các hình thức nhận diện rủi ro tài chính ở Việt Nam còn khá đơn giản và mang tính hình thức.
Nhiều DN ở các ngành, lĩnh vực khác nhau, nhƣng cách thức, kỹ thuật nhận dạng rủi ro tài chính lại không có nhiều khác biệt. Trong khi đó, rủi ro tại thị trƣờng tài chính Việt Nam đang đặt ra những vấn đề rất cấp bách, ví dụ nhƣ có một số ngân hàng thƣơng mại quản trị kém, phải sáp nhập hoặc bị buộc phải bán với giá 0 đồng… Do đó, phải có nhiều giải pháp để bảo đảm an toàn và an ninh tài chính quốc gia, doanh nghiệp”. Cũng theo TS. Phạm Tuấn Anh – Đại học Thƣơng Mại nhận định rằng: Nhìn từ các chức năng của quản trị tài chính, có thể nói rủi ro tài chính doanh nghiệp là rủi ro đối với đối với quá trình tài trợ và đầu tƣ các quỹ của doanh nghiệp, là nguyên nhân gây ra sự bất định trong quản trị tài chính doanh nghiệp.
Do đó, nhà quản trị tài chính cần phải nhận diện và có những giải pháp hữu hiệu nhằm đối phó với các rủi ro tài chính nhằm đảm bảo sự tăng trƣởng bền vững của doanh nghiệp.Tiếp cận từ việc phân tích môi trƣờng kinh doanh của doanh nghiệp, có thể thấy rủi ro tài chính của doanh nghiệp xuất phát từ 3 nguồn cơ bản sau: (i) Môi trƣờng bên trong doanh nghiệp; (ii) Môi trƣờng ngành; (iii) Môi trƣờng kinh tế vĩ mô. Từ tiếp cận đó, có thể hình dung cấu trúc rủi ro tài chính cơ bản của doanh nghiệp nhƣ sau: - Rủi ro thanh khoản thƣờng phát sinh trong ngắn hạn, tuy nhiên nếu khả năng thanh toán của doanh nghiệp không đƣợc duy trì tốt sau nhiều giai đoạn, có thể 5 dẫn tới rủi ro phá sản. Cả hai loại hình rủi ro này chủ yếu phát sinh do cấu trúc tài trợ, cấu trúc dòng tiền và khả năng quản trị tài chính của doanh nghiệp. - Rủi ro hối đoái thƣờng có 2 dạng thể hiện cơ bản gồm: Rủi ro hối đoái nghiệp vụ tồn tại khi biến động tỷ giá đe dọa giá trị các dòng tiền tƣơng lai của doanh nghiệp; Rủi ro hối đoái kinh tế tồn tại khi biến động tỷ giá đe dọa sức cạnh tranh về giá của sản phẩm do doanh nghiệp cung cấp.
- Rủi ro lãi suất thƣờng có 2 dạng thể hiện cơ bản gồm: Lãi suất biến động đe dọa chi phí tài trợ của doanh nghiệp và lãi suất biến động đe dọa hiện giá các tài sản nợ do doanh nghiệp nắm giữ. - Rủi ro tín dụng thƣờng có 2 dạng: Khoản phải thu từ đối tác trở nên không chắc chắn; Khả năng thanh toán cácchứng khoán nợ mà doanh nghiệp đang nắm giữ trở nên không chắc chắn. Các loại rủi ro tài chính có thể tƣơng tác với nhau, làm tăng nguy cơ và tổn thất cho doanh nghiệp. Ví dụ: rủi ro tài chính có thể làm trầm trọng rủi ro thanh khoản và rủi ro phá sản; các rủi ro do nguồn ngoại sinh cũng có thể kết hợp với nhau tạo nên những nguy cơ lớn hơn và tổn thất dự kiến cao hơn.
Do đó, các giải pháp quản trị rủi ro tài chính cần đƣợc thiết kế một cách có hệ thống, bám sát cấu trúc rủi ro của doanh nghiệp. Theo Trịnh Thị Phan Lan – Tạp chí Khoa học ĐHQG, 2016: Việc nhận diện rủi ro vẫn mang tính chất hình thức. Theo Thông tƣ 210/2009/TT-BTC thì các doanh nghiệp phải báo cáo các rủi ro thị trƣờng (bao gồm rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro biến động 6 giá), rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản với yêu cầu mô tả bản chất rủi ro phát sinh và biện pháp phòng ngừa. Trên thực tế, việc mô tả bản chất rủi ro phát sinh vẫn nặng về thủ tục hành chính và dựa trên lý thuyết chứ chƣa xuất phát từ tình hình thực tế của doanh nghiệp.
Qua khảo sát báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết qua các năm, tác giả nhận thấy rằng: Mặc dù thuộc các nhóm ngành khác nhau, nhƣng việc nhận diện các rủi ro phát sinh của các doanh nghiệp tƣơng đối giống nhau giữa các năm và giữa các doanh nghiệp với nhau. Hơn nữa, việc chỉ có 22% doanh nghiệp sử dụng dịch vụ tƣ vấn để phân tích rủi ro hay phát hiện rủi ro thể hiện nhận thức và tính chuyên nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam trong quản trị rủi ro tài chính chƣa cao. Bởi vì, các doanh nghiệp tƣ vấn với kinh nghiệm và đội ngũ chuyên nghiệp sẽ có sự phân tích kỹ lƣỡng, cụ thể với từng thƣơng vụ cho đến toàn bộ hoạt động kinh doanh tổng thể để có thể phát hiện sớm các rủi ro tiềm tàng của doanh nghiệp. Qua việc tìm hiểu những nguồn tài liệu viết về quản trị rủi ro tài chính, tác giả luận văn đã tổng hợp lại những phân tích, nhận định của các chuyên gia, của các tác giả trên các tạp chí khoa học, sách báo để có cái nhìn tổng quan về đề tài quản trị rủi ro tài chính.
Quản trị rủi ro tài chính tại các doanh nghiệp trong ngành dệt may ở Việt Nam Doanh nghiệp dệt may chịu nhiều loại rủi ro trong đó nổi bật là rủi ro về lãi suất cho vay, tỷ giá hối đoái, giá nguyên vật liệu, chi phí nhân công tăng. Năm 2008 lãi suất cho vay đã tăng từ 12% lên 15% (tăng 3%/năm). Với tổng mức đầu tƣ của ngành dệt may ƣớc tính 1 tỷ USD, tƣơng đƣơng với 16 nghìn tỷ đồng (năm 2008), trong đó dƣ nợ tín dụng lên đến 70%, tƣơng ứng với khoảng hơn 11 nghìn tỷ đồng, thì 3% lãi suất cho vay tăng thêm đó đã làm thiệt hại cho ngành dệt may hơn 300 tỷ đồng. (Nguyễn Mạnh Hùng, 2012) Trên thực tế, nếu cộng cả tổn thất chi phí cơ hội thì chi phí vốn đội thêm không dừng ở hơn 300 tỷ đồng mà là: 16 tỷ đồng x 3% = 480 tỷ đồng.
Bởi vì, trong 30% chi phí vốn còn lại, tuy không chịu áp lực trực tiếp từ lãi vay ngân hàng (do xuất phát từ nguồn vốn tự có, chiếm dụng, cổ phần hóa,…) nhƣng đều là nguồn vốn nên không thể hạch toán vào chi phí vốn đầu tƣ. (Nguyễn Mạnh Hùng, 2012) 7 Nhƣ vậy, việc đầu tƣ của doanh nghiệp dệt may trong giai đoạn lãi suất vay biến động và tăng cao là rất kém hiệu quả, ảnh hƣởng lớn đến kết quả tài chính của hoạt động đầu tƣ, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị giảm sút, khả năng trả nợ suy giảm… Nhiều doanh nghiệp có quy mô nhỏ vốn ít, không chịu đƣợc lãi suất cao, không có khả năng huy động vốn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh đã phải ngừng hoạt động, giải thể, phá sản. Năm 2009, bằng nhiều giải pháp của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, mặt bằng lãi suất liên tục đƣợc điều chỉnh giảm, nguồn cung tín dụng đƣợc nới lỏng, cùng với chính sách kích cầu thông qua chính sách hỗ trợ lãi suất phục vụ sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành dệt may – da dày là một trong những ngành công nghiệp hỗ trợ mà Chính phủ đặc biệt quan tâm.