CHƯƠNG 1 CO SO LY THUYET VE BONG LUC LAM VIEC CUA NHAN VIEN TRONG DOANH NGHIEP 1. KHAI QUAT VE TAO DONG LUC THUC DAY NHAN VIEN 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Theo từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển, Nhà xuất bản Đà Nẵng 1977 thi nhân lực là sức người, về mặt dùng trong lao động sản xuất Theo sách Quản trị nhân lực, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội thì nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, gồm thể lực và trí lực.
Qua các định nghĩa có thế nói: Nhân lực là sức lực của mỗi con người, bao gồm sưc mạnh cơ bắp, trí não và thần kinh của con người được sử dụng để phục vụ đời sống cho bản thân và tổ chức. Nguồn nhân lực "Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cầu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá. Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc:" Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng đẻ phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng".
Theo sách Quản trị nhân lực, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội thì 10 nguôn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tỉnh thần được huy động vào quá trình lao động. Từ những vấn đề trên ta có thể hiểu: ” Nguồn nhân lực là tông thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức nhất định”. Nhu cầu của nhân viên Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần đẻ tồn tại và phát triển. Tuỳ theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.
Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một các gì đó mà con người cảm nhận được. Như vậy cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được đó là một trạng thái đặc biệt của con người, sự thiếu hụt ấy đòi hỏi phải được thoả mãn bù đắp. Do đó, nhu cầu là yếu tố thúc đây con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chỉ phối con người ngày càng cao.
Về mặt quản lý, kém soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chỉ phối nhất định: nhận thức cao có khả năng kiềm chế sự thoã mãn nhu cầu). Nhu cầu một cá nhân da dạng và vô tận, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Nếu tìm cách thoã mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời biết tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của mình thì người lãnh đạo có thê chỉ phối được các nhân. Một khi nhu cầu lao động được thoả mãn thì mức độ hài lòng của nhân viên về công việc và tổ chức của mình sẽ tăng lên và nhờ vậy họ sẽ gắt nhiều hơn với tổ chức, đợn vị.
Động cơ Động cơ là sinh lực thúc đây, định hướng và duy trì hành vỉ của con người hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Động cơ khó xác định vì nó luôn biến đổi theo thời gian, ỗi thời điểm con người sẽ có nhu cầu và động cơ khác nhau, khó có thị t chính xác nhu cầu nào cụ thể ở từng thời điểm. Nó thường được che dấu bản chất thực vì nhiều lý do khác nhau như: tâm lý, quan điểm xã hội. Động cơ rất phong phú đa dạng, phức tạp và thường mâu thuẫn với nhau.
Động lực Động lực là sự sẵn sàng nỗ lực làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức và thoả mãn được nhu cầu của bản thân nhân viên. Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Động lực là tất cả những gì thôi thúc con người, thúc đây con người hăng hái làm việc. Cho đến nay đã có nhiều khái niệm về động lực lao động, mỗi khái niệm đều có những quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung đều nói lên được bản chất của động lực lao động.
“Theo định nghĩa trong giáo trình Quản trị nhân lực của Đại học kinh tế quốc dân — Ths Nguyễn Vân Điểm & PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân, năm 2004 thì: “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của nhân viên để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”. Theo Giáo trình Hành vi tổ chức - PGS.TS Bùi Anh Tuần, năm 2003 thì: “Động lực của người lao động là những nhân tổ bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức, cũng như của bản thân người lao động.” 12 £ Tạo động lực cho nhân viên Có thể nói động lực lao động là những nhân tố thôi thúc con người làm việc và giúp cho họ làm việc có hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức đồng thời cũng là để thỏa mãn mong muốn của bản thân nhân viên. Nó không chỉ chịu ảnh hưởng bởi bản thân nhân viên mà còn chịu ảnh hưởng lớn bởi những hoạt động quản lý nhân sự trong một tô chức.
Nhân viên nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc. Tuy nhiên, người lao động nếu mắt động lực hoặc suy giảm động lực sẽ mắt khả năng thực hiện công việc và có xu hướng ra khỏi tô chức. Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích. Vì vậy các nhà quản lý luôn tìm cách để trả lời câu hỏi là tại sao nhân viên lại làm việc.
Để trả lời được cho câu hỏi này họ phải tìm hiểu về động lực của nhân viên và tìm cách tạo động lực cho người lao động trong quá trình làm việc. Vay van dé quan trọng của động lực đó là mục tiêu của nhân viên, nhưng để đề ra được những mục tiêu phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của họ, tạo cho họ sự hãng say, nỗ lực trong quá trình làm việc thì nhà quản lý phải biết được mục đích hướng tới của nhân viên sẽ là gì. Việc dự đoán và kiểm soát hành động của nhân viên hoàn toàn có thẻ thực hiện được thông qua việc nhận biết nhu câu, lợi ích và động cơ của họ. Qua đó ta có thê , tạo động lực được hiểu là tổng thể các chính sách, biện pháp, công cụ, nghệ thuật quản lý tác động lên người lao động nhằm thúc đây họ phấn khởi, hăng say, tự nguyện hơn khi làm việc để thực.
hiện mục tiêu của tổ chức và người lao động một cách có hiểu quả. Mối quan hệ giữa nhu cầu, động cơ và động lực Dé tạo động lực làm việc hiệu quả, các nhà quản trị không chỉ nghiên cứu các nhu cầu, mong muốn mà quan trọng hơn là phải biết được mức độ. nhu cầu muốn được thoả man của nhân viên đề rồi từ đó đáp ứng một cách l3 kịp thời, thoả đáng, phù hợp với công sức đóng góp của họ. Hay nói cách khác, tạo động lực thúc đây nhân viên chính là nắm bắt được các nhu cầu làm phát sinh động cơ của nhân viên.
Như vậy, giữa nhu cầu, động cơ và động lực có mối quan hệ khăng khít với nhau. Nếu không có nhu cầu sẽ không phát sinh động cơ và không có động lực. Vai trò của động lực làm việc Đối với nhân viên : Động lực làm việc có vai trò quan trọng trong việc quyết định hành vi của người lao động. Khi người lao động có động lực làm.
việc thì họ sẽ say mê với công việc và nghề nghiệp của mình, do đó họ sẽ làm. việc nhiệt tình hãng say hơn và có thể phát huy hết khả năng tiềm ẩn, nâng. cao những khả năng hiện có của mình, nhờ đó mà những mục tiêu của tổ chức. sẽ được thực hiện với hiệu quả cao.
Động lực làm việc không chỉ giúp nhân viên kết hợp với nhau tốt hơn trong công việc mà còn tăng cường sự gắn bó về mặt tỉnh thần trong một tập thể, cùng chung sức hỗ trợ vì mục tiêu chung. Nếu không có động lực làm „ nhân viên sẽ làm việc theo hình thức đối phó, ảnh hưởng đến không khí làm việc chung của tổ chức và mọi người xung quanh, hiệu quả công việc chắc chắn sẽ bị giảm sút. Đối với tổ chức: Trong một doanh nghiệp thì nguồn nhân lực là bộ phận quan trọng không thể thiếu nên động lực làm việc của người lao động đóng vai trò quyết định sức mạnh của tô chức. Động lực làm việc là cơ sở đem lại sự sáng tạo trong tổ chức: người có động lực làm việc thường cảm thấy thoải mái và say mê với nhiệm vụ được giao.
Chính vì vậy, họ luôn thẻ hiện tính sáng tạo trong công việc, từ đó giúp tổ chức có thêm những ý tưởng sáng tạo, đổi mới, tạo ra sự đột phá trong tô chức, giúp tô chức thích ứng được với những thay đổi và chủ động tạo ra những thay đôi 14 Động lực làm việc giúp giảm thiểu những vấn đề có tác động tiêu cực nảy sinh trong hoạt động của tổ chức: khi người lao động có động lực làm việc thì tai nạn nghề nghiệp ít xảy ra hơn, các vấn đề vi phạm đạo đức, bỏ việc hoặc tỉ lệ vi phạm kỷ luật cũng ít hơn. Người có động lực làm việc ít bị bệnh trầm cảm và thường có sức khoẻ về thể chất và tinh thần tốt. Người có động lực làm việc cao sẽ gắn kết với tổ chức, sáng tạo hơn và phục vụ nhu cầu của khách hàng tốt hơn, do đó họ sẽ đóng góp vào thành công của tổ chức.