Chương I: Cơ sở lý luận về tạo động lực thúc đẩy người lao động. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Chương 4: Bình luận kết quả và hàm ý chính sách.
Téng quan tài Để thực hiện đề tài này, tác giả đã tiến hành tham khảo một số nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước như sau: - Nghiên cứu của Smith, Kendall and Hulin (1969), The measuremenf of satisfaction in work and retirement. Nghiên cứu đã xây dựng chỉ số đánh giá mức độ thỏa mãn công việc JDI dựa trên các biến sau: bản chất công việc, tiền lương, sự giám sát của cấp trên, đào tạo thăng tiến, đồng nghiệp. - Nghiên cứu của Herzberg (1959), Two Factor Theory: Motivation Factors. Nghiên cứu đã chỉ ra có 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc là các nhân tố thúc đây và nhân tố duy trì.
Một số biến đo lường này được vận dụng vào trong nghiên cứu của tác giả. - Trong nghiên cứu của Teck-Hong và Waheed (2011) dựa trên lý thuyết hai nhân tố của Herzberg, hai tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến động lực làm việc để tiến hành cuộc khảo sát với nhân viên bán hàng tại Malaysia. Kết quả các phân tích đã chứng minh rằng. biến động lực quan trọng nhất là điều kiện làm việc.
Sự công nhận là yếu tố đáng kể thứ hai, tiếp theo chính sách công ty và các yếu tài chính. Các bằng chứng kết luận rằng các nhân tố duy trì hiệu quả hơn nhân tố động viên trong. việc tạo động lực cho nhân viên bán hàng. Brooks (2007, Hoa Kỳ) đã tiến hành nghiên cứu bằng cách phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi gồm 53 biến quan sát đối với 181 người làm các công việc khác nhau trên khắp nước Mỹ.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc kết hợp giữa hai yếu tố thiết lập mục tiêu và sự hài lòng trong công, việc là cách tốt nhất đẻ dự đoán động lực làm việc của nhân viên; các yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hài lòng của nhân viên bao gồm: đánh giá hiệu quả công việc, đào tạo, cắp trên, đóng góp vào tổ chức. - Nghiên cứu của Chomg-Guang Wu (2007, Hoa Kỳ) dựa trên thuyết kỳ vọng của Vietor Vroom. Nghiên cứu tiến hành kiểm định mô hình và đã kết luận rằng các yếu tố giúp đỡ đồng nghiệp, đánh giá công bằng, phát triển nghề nghiệp, cam kết của tổ chức, đáp ứng nhu cầu cá nhân là những yếu tố tác động đến động lực của nhân viên. - Marko Kukanja (2012) tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng.
đến động lực làm việc của các nhân viên trong ngành dịch vụ du lịch tại khu vực ven biển Piran của Slovenia. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tiền lương. là yếu tố quan trọng nhất, tiếp theo là phúc lợi xã hội và thời gian làm việc linh hoạt; yếu tố đào tạo được đánh giá ít quan trọng nhất. ~ Lưu Thị Bích Ngọc và các tác giả khác (2013) trên cơ sở lý thuyết hai nhân tố của Herzberg và mô hình của Teck-Hong và Waheed (2011) đã tiến hành nghiên cứu đối với 136 nhân viên ở các khách san 3-5 sao trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, thấy rằng có 4 nhân tố tác động nhiều đến động lực.
làm việc của nhân viên khách sạn theo mức độ quan trọng thấp dần, bao gỗ. quan hệ với cấp trên, phát triển nghề nghiệp, điều kiện làm việc và bản chất công việc. Cùng một số tài liệu, luận văn của các tác giả nghiên cứu khác Các nghiên cứu trên là cơ sở cho quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài luận văn này CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE TAO DONG LUC THUC DAY NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. TIM HIEU VỀ ĐỌNG LỰC LÀM VIỆC 1.
Định nghĩa Động lực làm việc ngày nay đã trở thành khái niệm phô biến và đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu trong nhiều năm qua. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực làm việc đã được các nhà nghiên cứu công bố. ~ Drever (1952) động lực là một hiện tượng bao gồm các hoạt động của sự khuyến khích, động viên và cố gắng, nỗ lực. ~ Theo Vroom (1964) động lực là trạng thái hình thành khi người lao động kỳ vọng rằng họ sẽ nhận được kết quả, phần thưởng như mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc.
- Theo Mitchell (1982) động lực là "mức độ mà một cá nhân muốn và lựa chọn để tham gia vào các hành vi cụ thể nào đó". - Baron (1991) định nghĩa động lực là trạng thái mà người lao động "muốn hành động" và "lựa chọn để hành động" nhằm đạt được thành công tại nơi làm việc ~ Có hai loại động lực trong công việc, là động lực từ bên trong (nội tại) và động lực bên ngoài. Động lực bên trong là một hoạt động thỏa mãn mong muốn vốn có, cá nhân muốn làm việc để hiểu được khả năng của mình và tự quyết trong công việc, muốn có thử thách trong công việc (Deci năm 1975; Warr, Cook, & Wall nim 1979; Amabile năm 1993). Trong khi đó, động lực bên ngoài được thúc đầy bởi tất cả những yếu tố và nguồn từ bên ngoài nhằm kích thích hiệu quả làm việc của cá nhân.
Các yếu tổ bên ngoài có thể là phần thưởng, khen thưởng, phản hồi công việc, thời hạn hoàn thành công việc, yêu cầu công việc, hoạt động giám sát, lương thưởng và thăng tiến (Kluger & DeNisi năm 1996; Whang & Hancock, 1994). - Robbins (1998), George va Jones (1999) định nghĩa động lực là một nhân tố tâm lý kích thích một cá nhân phải nỗ lực để đạt được mục tiêu cá nhân cụ thể hoặc mục tiêu của tổ chức; động lực phục vụ như một cơ chế để đáp ứng một nhu cầu cá nhân. ~ Uroševic và Milijie(2012) phát biểu rằng động lực có thể được định nghĩa là một quá trình tạo ra các hoạt động liên quan trực tiếp đến các đối tượng và nhu cầu nhất định để đạt được một mục tiêu nhất định. Nhu vay qua những nghiên cứu này, ta có thể thấy có khá nhiều các định nghĩa khác nhau và các nghiên cứu cũng đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động.
Luận văn dựa trên cơ sở của các yếu tố này, cùng với việc điều chỉnh, bổ sung sao cho phù hợp với đối tượng, mục tiêu, phạm vi cụ thể của nghiên cứu. Tạo động lực làm việc cho người lao động: Là tất cả những hoạt động mà một doanh nghiệp, cơ quan tổ chức có thẻ thực hiện được đối với người lao động, tác động đến khả năng làm việc tinh thần thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động. Các lý thuyết về động lực làm việc Động lực đã được nghiên cứu từ khá lâu và rất nhiều lý thuyết, công. trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề này.
Để có sự hiểu biết rõ ràng hơn về động lực, chúng ta có thê tìm hiểu các lý thuyết sau. Lý thuyết Thang bậc nhu cầu cña Maslow' Năm 1943, Maslow (1908- 1970) là một học giả về quản lý và tâm lý học của Mỹ đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Đó là lý thuyết thang bậc nhu cầu của con người (Hierarchy of Needs). Ong dat ra giả thuyết rằng trong mọi con người đều tồn tại một hệ thống nhu cầu 5 thứ bậc sau đây: ~ Nhu cau sinh ly ~ Nhu cầu an toàn ~ Nhu cầu xã hội ~ Nhu cầu được tôn trọng ~ Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu Nhu cầu được.
'Nhụ cầu xã hội Nhu bậc Hình 1. Tháp nhu cầu của Maslow “Theo Maslow, con người hành động là để thỏa mãn nhu cầu, do đó nhu cầu trở thành động lực thúc đẩy, kích thích hành vi của người lao động; khi mà một trong số các nhu cầu này được thỏa mãn một cách căn bản thì nhu cầu tiếp theo sẽ xuất hiện và chế ngự. Lý thuyết của Maslow đã được công nhận rộng rãi, đặc biệt trong giới quản lý và điều hành Lý thuyết này được đánh giá cao vì nó có một ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản lý là muốn động viên nhân viên thì cần phải biết người lao động của mình đang ở cấp độ nhu cầu nào, đề từ đó có các giải pháp cho việc thỏa mãn nhu cầu người lao động đồng thời bảo đảm đạt đến các mục tiêu của tô chức. Hệ thống nhu cầu thứ bậc của Maslow được nhiều nhà quản lý sử dụng làm công cụ hướng dẫn trong việc tạo động lực cho người lao động.
Lý thuyết hai nhân tố của Herzberg Frederick Herzberg (1966) phát triển thuyết động viên của mình không. dựa vào việc thỏa mãn nhu cầu, sự mong đợi hay sự công bằng mà phân tích mối quan hệ của cá nhân đối công việc và thái độ hướng đến công việc. Herberzg cho rằng không chỉ tồn tại hai trạng thái thỏa mãn hay bất mãn ở nhân viên mà còn có các nhân tố bên trong (nhân tố động viên) và nhân tố bên ngoài (nhân tố duy trì), những nhân tố này liên quan đến động lực làm việc của nhân viên trong mối quan hệ giữa công việc và thái độ của họ. Nhân tố duy trì và nhân tố động viên Nhân tô bên ngoài Nhân tố bên trong (Nhân tố duy trì) Nhân tố động viên) 1.
Các mỗi quan hệ với cấp dưới 3. Trách nhiệm 4. Cuộc sông cá nhân 4. Quan hệ với đồng nghiệp 5.
Điều kiện làm việc §. Mỗi quan hệ với cấp trên 9. Chính sách và quản trị của công ty Theo ông các yếu tố duy trì chưa phải là những động lực thúc đẩy, nó không đem lại sự hăng hái hơn, tuy nhiên nếu thiếu sự tồn tại của chúng sẽ 10 dẫn đến sự bất mãn. Các yếu tố thúc đẩy sẽ động viên người lao động làm việc hăng hái hơn, nhưng nếu không có, họ vẫn làm việc bình thường.
Qua nghiên cứu cho thấy bên cạnh các lợi ích về vật chất như tiền lương, tiền thưởng còn có một loạt các yếu tố khác tạo động lực lao động như sự thăng tiền, bản thân công việc, thành tích, trách nhiệm. cả đều có tác động trực tiếp đến động lực lao động. Khi người lao động cảm nhận được vị trí công việc của mình, trách nhiệm của mình đối với tổ chức và cảm thấy mình được tôn trọng họ sẽ có trách nhiệm hơn với công việc, làm việc nhiệt tình hăng say và hiệu quả hơn.